Bản án 35/2017/HSST ngày 26/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 35/2017/HSST NGÀY 26/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 26 tháng 9 năm 2017, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2017/HSST ngày 15 tháng 9 năm 2017. Đối với bị cáo: Hoàng Nghĩa N; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 19/3/1991, tại xã T, huyện T

- Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm Trung Mỹ, xã T, huyện T - Nghệ An. Số CMND: không nhớ; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 9/ 12. Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Hoàng Nghĩa C, Sinh năm: 1959 và bà: Võ Thị L, sinh năm: 1961. Vợ, con: chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 19/11/2013, bị Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hồ Chí Minh, xử 05 năm tù về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt vào ngày 10/9/2016; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/7/2017, hiện đang bị tạm giam tại: Tr¹i tạm giam C«ng An tØnh NghÖ An. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 21/7/2017, Hoàng Nghĩa N đi nhờ xe của người đi đường từ xã T, huyện T ra thị trấn T, N gặp Ng (không rõ địa chỉ, là người nghiện) nên cả hai cùng rủ nhau bắt xe buýt đi xuống huyện T, tỉnh Nghệ An để mua heroin. Khi đi đến địa phận xã T thuộc huyện T, N và Ng xuống xe đi bộ, cả hai cùng bàn nhau góp tiền mua heroin: N góp 130.000 đồng, Ng góp 170.000 đồng. Đi được một đoạn thì N và Ng gặp một người đàn ông tên Tr (không rõ địa chỉ, là người trước đây N có mua ma túy). N hỏi người này “Anh có hàng không”, thì Tr nói “Chú đi theo anh”. N bảo Ngọc đứng đó chờ, còn N ngồi xe Tr đến một đoạn đường vắng cách đó khoảng 02 km thì Tr bảo N dừng lại và hỏi mua bao nhiêu, N nói “Bán cho em 300.000 đồng”, Tr lấy từ trong túi quần ra 02 gói nhỏ: một gói được gói bằng lớp giấy màu xanh trắng; một gói được bọc bằng bao nilon màu trắng rồi đưa cho N. Mua xong N quay lại chỗ Ng đứng chờ. Khi gặp Ng, N lấy 01 gói nhỏ bọc bằng chiếc giấy màu xanh trắng ra chia cho Ng một nửa, số còn lại N cất vào túi quần. Sau đó N và Ng bắt xe buýt về huyện T. Khi đến Bệnh viện An Phát thuộc khối 1, thị trấn T, huyện T, N xuống xe đi bộ được khoảng 50m thì bị tổ công tác thuộc Đội CSGT số 3, phòng PC67, Công an tỉnh Nghệ An yêu cầu kiểm tra hành chính. Hoàng Nghĩa N đã tự nguyện lấy 02 gói nhỏ trong túi quần ra giao nộp cho cơ quan Công an. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hoàng Nghĩa N, niêm phong vật chứng thu giữ và tiến hành giao đối tượng cho Cơ quan CSĐT Công an huyện T xử lý.

Ngày 21/7/2017, cơ quan CSĐT Công an huyện T tiến hành lập Hội đồng mở niêm phong cân xác định trọng lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại - Xác định: Toàn bộ vật chứng đóng trong gói niêm phong thu giữ của Hoàng Nghĩa N có trọng lượng cả bì là 4,190g (Bốn phẩy một trăm chín mươi gam); sau khi loại bỏ bao bì, số chất bột màu trắng dạng cục trong gói nhỏ thứ nhất có trọng lượng là 0,125g (Không phẩy một trăm hai lăm gam), số chất bột màu trắng dạng cục trong gói nhỏ thứ hai có trọng lượng là 0,195g (Không phẩy một trăm chín lăm gam).

Tại kết luận giám định số 837/KL-PC54(MT) ngày 22/7/2017  của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục trong phong bì thư số 01 và số 02 ghi thu của Hoàng Nghĩa N gửi tới giám định đều là chất ma túy (Heroin), tổng trọng lượng là 0,32g (Không phẩy ba hai gam).

Tại bản cáo trạng số 38/VKS - HS  ngày 15 tháng 9 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Nghệ An, truy tố Hoàng Nghĩa N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng  khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự (BLHS) 1999, khoản 1 Điều 2 NQ số 41 của Quốc Hội, khoản 3 Điều 7 BLHS 2015.  Xử phạt Hoàng Nghĩa N mức án từ 18 đến 24 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 BLHS, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS).

Tiêu huỷ: Phong bì thư số 03 đựng vỏ bao bì và số ma túy (Hêrôin) còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định thu giữ của Hoàng Nghĩa N.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nạp 200.000 đồng

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Hoàng Nghĩa N có lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận ra sai lầm của bị cáo, xin hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Hoàng Nghĩa N đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung của bản cáo trạng đã nêu và quy kết, không có khai nại gì khác. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, được lập vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 21/7/2017, phù hợp với vật chứng, lời khai của người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy đã đầy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 21 tháng 7 năm 2017, trên Quốc lộ 15A khu vực Bệnh viện An Phát thuộc khối 1, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An, Tổ công tác đội CSGT số 3, Phòng PC67, Công an tỉnh Nghệ An phát hiện và bắt quả tang Hoàng Nghĩa N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,32g (Không phẩy ba hai gam) heroin nhằm mục đích sử dụng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS quy định: "Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm". Như vậy: Hành vi tàng trữ trái phép 0,32g (Không phẩy ba hai gam)  (Hêrôin) của Hoàng Nghĩa N vào hồi 14 giờ 00 phút  ngày 21/7/2017 đã đủ yếu tố cấu thành  tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến việc quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây tác hại cho sức khỏe của con người, làm suy thoái giống nòi, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an ninh xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả, nhằm mục đích thỏa mãn lối sống ăn chơi đua đòi của bản thân, nên cần phải xử lý nghiêm.

Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ: Bị cáo Hoàng Nghĩa N đã có 01 tiền án 5 năm tù về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”, mới ra tù tháng 9/2016, hiện chưa được xóa án tích cho nên phạm tội lần này là tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS, bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS. Đồng thời tại khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 quy định; “ Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản suất  trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm …” Tại khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 quy định "Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm" . Căn cứ vào quy định của Nghị quyết 41/2017/QH14 áp dụng theo hướng có lợi cho bị cáo nên cho bị cáo được hưởng mức án theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 là phù hợp. Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian là cần thiết nhằm trừng trị bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung : Căn cứ vào biên bản xác minh ngày 30/7/2017 của cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Kỳ, thì thấy rằng bị cáo Hoàng Nghĩa N đang sống chung cùng bố mẹ đẻ, không có tài sản nào đứng tên chủ sở hữu của N, làm nghề lao động tự do, thu nhập trung bình từ 1.200.000 (Một triệu hai trăm nghìn) đồng đến 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với người đi mua ma túy với N tên là Ng và người đàn ông bán ma túy tên là Tr theo lời khai của Hoàng Nghĩa N, quá trình điều tra cơ quan CSĐT Công an huyện T không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để xử lý. Vì vậy sẽ tiếp tục điều tra, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra có thu giữ của Hoàng Nghĩa N  2 gói nhỏ, Sau khi mở niêm phong cân xác định trọng lượng, lấy mẫu đi giám định, số chất bột màu trắng và vỏ bao bì được niêm phong lại bằng 01 (một) phong bì thư có ghi dòng  chữ “Phong bì thư số 03 đựng vỏ bao bì và vật chứng chất bột màu trắng còn lại nghi là heroin thu giữ của Hoàng Nghĩa N ngày 21/7/2017 để lại”.

Xét thấy:  Phong bì thư trên đựng chất ma túy lµ lo¹i hµng Nhµ n•íc cÊm lưu hành, nên áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 76 BLTTHS để tiêu hủy.

Về án phí:  Bị cáo Hoàng Nghĩa N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố : Bị cáo Hoàng Nghĩa N phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Áp dụng:  Khoản  1 Điều 194, điểm  p  khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14, khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015.

Xử phạt: Hoàng Nghĩa N 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, (ngày 21/7/2017).

Về vật chứng vụ án :  Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 76 BLTTHS.

Tiêu hủy: “Phong bì thư số 03 đựng vỏ bao bì và vật chứng chất bột màu trắng còn lại nghi là heroin thu giữ của Hoàng Nghĩa N”. Vật chứng có đặc điểm như biên bản  giao vật chứng giữa Công An Huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T lập vào ngày 18 tháng 9 năm 2017.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 99 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Hoàng Nghĩa N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An./.


92
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về