Bản án 347/2018/HS-PT ngày 12/06/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 347/2018/HS-PT NGÀY 12/06/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 12 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân T phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 316/2018/TLPT-HS ngày 16 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo Trịnh Quang T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 81/2018/HS-ST ngày 10/04/2018 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội.

* Bị cáo có kháng cáo:

TRỊNH QUANG T, sinh ngày 08/10/1982 tại Nam Định; ĐKHKTT và nơi cư trú: Phòng 517 - E6 tập thể Q M, phường Q M, quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Quốc D và bà Ngô Thị K; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: D:\Bản án công bố\BAPT Trịnh Quang Thành 12-6(194).doc

- Ngày 28/7/1999 Công an phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi “Cưỡng đoạt tài sản”;

- Ngày 12/8/2010 Công an phường Trương Định, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”;

- Bản án số 06/HSST ngày 15/01/2001 TAND quận Hai Bà Trưng, Hà Nội xử phạt 04 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”;

- Bản án số 163/HSST ngày 29/4/2005 TAND quận Hai Bà Trưng, Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Bản án số 113/2011/HSST ngày 28/4/2011 TAND quận Hoàn Kiếm, Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Bản án số 658/2013/HSST ngày 09/12/2013 TAND quận Đống Đa, Hà Nội xử phạt 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/9/2017.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23h00 ngày 03/9/2017, tổ công tác Cảnh sát cơ động - Công an TP Hà Nội tiến hành dừng xe đạp điện để kiểm tra đối với đối tượng Trần Giang L (Sinh năm 1970, HKTT: 82 H M, phường H M, Hoàn Kiếm, Hà Nội) điều khiển, phía sau chở Trịnh Quang T tại trước cửa Trung tâm thương mại Vincom Phạm Ngọc Thạch, phường Trung Tự, Đống Đa, Hà Nội. Khi bị kiểm tra, T để lại 2 chiếc điện thoại di động cùng chiếc túi da màu đen đang cầm ở tay phải lên yên xe đạp điện rồi bỏ chạy nhưng đã bị lực lượng công an bắt giữ và đưa về trụ sở Công an phường Trung Tự giải quyết.

Tại trụ sở Công an phường, trước sự chứng kiến của T và L, Cơ quan công an đã kiểm tra và phát hiện trong túi da trên có: 02 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng 5x10cm, bên trong đựng tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng 3x4cm, bên trong đựng tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng 3x6cm đựng 10 viên nén hình tròn màu xanh; 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 thẻ ATM Techcombank đều mang tên Trịnh Quang T; 01 sạc dự phòng; 01 điện thoại BMW bằng kim loại màu trắng và số tiền 47.700.000đồng. Ngoài các tang vật thu giữ trong túi da, cơ quan công an còn thu giữ của T 01 điện thoại di động Iphone 6, bên trong có sim số 0966849268; 01 điện thoại di động Nokia 216, bên trong có sim số 0911055095; Thu giữ của L 01 xe đạp điện NINJA màu hồng.

Theo Kết luận giám định số 5722/KLGĐ-PC54 ngày 11/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an T phố Hà Nội Hà Nội kết luận:

- 10 viên nén hình tròn màu xanh đều là ma túy loại MDMA, tổng trọng lượng 3,497 gam.

- Tinh thể màu trắng bên trong túi nilon kích thước 3x4cm là ma túy loại Ketamine, trọng lượng 2,635 gam.

- Tinh thể màu trắng bên trong túi nilon kích thước 5x10cm là ma túy loại Ketamine, trọng lượng 11,862 gam.

- Tinh thể màu trắng bên trong túi nilon kích thước 5x10cm là ma túy loại Ketamine, trọng lượng 9,319 gam.

Tại cơ quan điều tra Trịnh Quang T khai nhận: Vào khoảng 22h55’ ngày 3/9/2017 T đứng đón xe taxi tại cổng trường Đại học Y Hà Nội thì thấy L là người quen đi xe đạp điện qua. T gọi lại và nhờ L chở ra ngã tư Tôn Thất Tùng - Chùa Bộc để đón xe taxi. L chở T đi đến trước cửa Trung tâm thương mại Vincom phố Phạm Ngọc Thạch thì bị cảnh sát cơ động dừng xe kiểm tra. T đã lấy điện thoại trong túi quần và để lên yên xe đạp điện. Khi cảnh sát cơ động tiến hành kiểm tra người thì T bỏ chạy. T chạy được khoảng 500m thì bị lực lượng cảnh sát cơ động đuổi theo bắt giữ và đưa về vị trí kiểm tra ban đầu. T thấy trên yên xe đạp điện có 01 túi da màu đen. T không biết túi da là của ai. Sau đó các đồng chí cảnh sát cơ động đưa T và L về trụ sở CAP Trung Tự kiểm tra. Tại công an phường, khi kiểm tra chiếc túi da bên trong có số tiền47.700.000đồng; 03 điện thoại  di động; 01 giấy CMND mang tên TrịnhQuang T; 01 thẻ ngân hàng  Techcombank mang tên Trịnh Quang T; 01 cục sạc dự phòng; 03 túi nilon đựng tinh thể màu trắng; 01 túi niL đựng 10 viên nén hình tròn màu xanh. T khai số tiền 47.700.000đồng là tiền T vay của mẹ là Ngô Thị K (Sinh năm 1952, HKTT: 517 E6 Q M, Hai Bà Trưng, Hà Nội), 3 chiếc điện thoại, giấy CMND, thẻ ATM và cục sạc pin dự phòng là của T. Khi bỏ chạy T bị rơi tiền, giấy CMND, thẻ ATM và cảnh sát cơ động nhặt lại bỏ vào túi da. Chiếc túi da và các túi nilon đựng ma túy T không biết là của ai.

Tại cơ quan điều tra Trần Giang L khai: Khi L chở T đến trước cửa Trung tâm thương mại Vincom Phạm Ngọc Thạch thì bị lực lượng cảnh sát cơ động ra hiệu lệnh dừng xe kiểm tra. L dừng xe và dắt vào lề đường. Sau đó lực lượng công an yêu cầu L và T bỏ hết đồ vật tài sản lên yên xe để kiểm tra. L thấy trên yên xe đạp điện có 2 điện thoại của T cùng 01 chiếc túi da màu đen trên yên xe đạp. T có biểu hiện lúng túng nên cảnh sát cơ động đã yêu cầu T cho kiểm tra. Ngay lập tức T bỏ chạy và bị lực lượng công an bắt giữ và đưa về vị trí của L đang đứng. Quá trình T bỏ chạy L không thấy T đánh rơi đồ vật, tài sản gì. Sau đó cảnh sát cơ động đưa ngay L, T cùng túi da và điện thoại thu trên yên xe đạp điện về Công an phường Trung Tự làm rõ. Tại Công an phường Trung Tự, trước sự chứng kiến của L, T và người chứng kiến, Công an phường đã mở chiếc túi da màu đen ra kiểm tra. T khai nhận số tiền 47.700.000đồng, điện thoại di động, giấy CMND, thẻ ATM, pin dự phòng thu trong túi da là của T còn các túi nilon đựng ma túy và chiếc túi da màu đen T không biết của ai. Khi L cho T đi nhờ xe thì L không biết T cầm theo đồ vật gì, tuy nhiên khi được xem lại hình ảnh camera L xác định T đúng là người ngồi sau xe của L và cầm theo một vật màu đen. Chiếc xe đạp điện là của L làm phương tiện đi lại.

Qua ghi lời khai của các đồng chí cảnh sát cơ động trực tiếp bắt giữ và nhân chứng xác định: Khi dừng xe L và T tại trước cửa trung tâm thương mại Vincom Phạm Ngọc Thạch thì T nhảy xuống xe, tay phải của T cầm 01 túi da màu đen. Lực lượng cảnh sát cơ động yêu cầu T để đồ vật tài sản lên yên xe thì T để điện thoại và ví da lên yên xe đạp điện. Qua kiểm tra người của T thì không phát hiện thu giữ gì. Khi cảnh sát cơ động yêu cầu T tự mở túi da màu đen ra để kiểm tra T liền bỏ chạy. T bỏ chạy được một đoạn thì bị bắt giữ lại và đưa về vị trí ban đầu. Từ khi bỏ chạy đến khi bị bắt T không làm rơi đồ vật, tài sản gì. Chiếc túi da màu đen của T vẫn được bảo quản nguyên vẹn trong trạng thái khóa và được đưa ngay về Công an phường Trung Tự. Tại đây, trước sự chứng kiến của L và T, Công an phường Trung Tự đã kiểm tra và thu giữ được ma túy cùng các tang vật là tiền, điện thoại, giấy CMND, thẻ ATM và pin dự phòng.

Cơ quan điều tra đã tiến hành trích xuất hình ảnh camera thu giữ tại vị trí, thời điểm xảy ra vụ việc xác định tại thời điểm bị kiểm tra T ngồi sau xe đạp điện của L. Khi bị CSCĐ dừng xe kiểm tra thì T xuống xe và tay phải cầm theo 01 chiếc túi màu đen phù hợp với lời khai của các cán bộ trực tiếp bắt giữ.

Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại thu giữ của T xác định có nhiều tin nhắn trao đổi, mua bán trái phép chất ma túy với các số điện thoại01225256161, 0944921968, 01692613883; 0983240919, 0971833006, tuy nhiên T không thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 81/2018/HS-ST ngày 10/4/2018 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội đã quyết định. Tuyên bố bị cáo Trịnh Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm l khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Trịnh Quang T 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2017.

- Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 16/4/2018 bị cáo Trịnh Quang T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa bị cáo Trịnh Quang T thay đổi nội dung kháng cáo kêu oan. Bị cáo không thừa nhận túi da và ma túy trong túi da khi bị bắt giữ là của bị cáo, túi da và ma túy bị cáo không biết là của ai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố Hà Nội tại phiên tòa sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân bị cáo, xem xét kháng cáo của bị cáo Trịnh Quang T đã cho rằng án sơ thẩm xét xử bị cáo Trịnh Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ pháp luật, không oan. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự, xử  không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh Quang T và y án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trịnh Quang T không thừa nhận chiếc túi da và ma túy trong túi cơ quan công an thu giữ là của bị cáo, bị cáo kêu oan và cho rằng không thực hiện hành vi tàng trữ chất ma túy. Tuy nhiên căn cứ vào lời khai của Trần Giang L xác định khi cảnh sát cơ động yêu cầu bỏ đồ vật trong người ra kiểm tra, L thấy trên yên xe đạp điện có 02 chiếc điện thoại của T cùng một túi da màu đen trên yên xe đạp điện. Khi T bỏ chạy, L không thấy T rơi đồ vật gì. L cũng xác nhận T đúng là người ngồi sau và cầm theo một vật màu đen. Các đồng chí cảnh sát cơ động trực tiếp dừng xe và kiểm tra hành chính đối với L và T đều khẳng định khi yêu cầu dừng xe và bỏ đồ vật trong người để kiểm tra, T bỏ 02 chiếc điện thoại cùng một túi da màu đen lên yên xe đạp điện của L sau đó T bỏ chạy bị lực lượng công an khống chế bắt, quá trình bỏ chạy T không bị rơi ra bất cứ tài sản, đồ vật gì. Trần Giang L khai nhận khi T bỏ chạy chiếc túi xách để nguyên trên yên xe đạp điện, khi T bị khống chế quay lại vị trí chiếc xe đạp điện, tổ công tác đưa L, T cùng toàn bộ đồ vật về Công an phường Trung Tự để làm rõ. Tại Công an phường Trung Tự, trước sự chứng kiến của L, T, tổ công tác cảnh sát cơ động, Công an phường đã kiểm tra trong túi da màu đen trên yên xe đạp điện phát hiện ngoài số ma túy đã thu giữ còn có 01 chứng minh nhân dân mang tên Trịnh Quang T, 01 thẻ ATM techcombank mang tên Trịnh Quang T; 01 điện thoại Iphone 6 bên trong có số sim 0966849268 (mang tên thuê bao Trịnh Quang T). Quá trình trích xuất camera ghi lại hình ảnh khi tổ cảnh sát cơ động ra hiệu lệnh dừng xe L và T để kiểm tra thể hiện trên tay T cầm một vật màu đen giống chiếc túi bị thu giữ. Ngoài ra Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại thu giữ của T xác định có nhiều tin nhắn, hình ảnh trao đổi, mua bán trái phép chất ma túy với các số điện thoại 01225256161, 0944921968,01692613883; 0983240919, 0971833006. Như vậy, mặc dù bị cáo Trịnh Quang T không thừa nhận chiếc túi da chứa ma túy là của bị cáo, nhưng căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của những người làm chứng, tang vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Hồi 23h ngày 03/9/2018, tại trước cửa Trung tâm thương mại Vincom Phạm Ngọc Thạch, phường Trung Tự, quận Đống Đa TP Hà Nội, Trịnh Quang T đã thực hiện hành vi cất giữ trong túi da màu đen bên trong chứa 10 viên nén hình tròn màu xanh là ma túy MDMA trọng lượng 3,497gam và 03 túi niL chứa ma túy Ketamine có tổng trọng lượng 23,816 gam. Chính vì vậy hành vi cất giữ 3,497gam ma túy MDMA và 23,816 gam ma túy Ketamine của Trịnh Quang T đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm l khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật không oan.

[2] Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo; thái độ khai báo không T khẩn của bị cáo; nhân thân của bị cáo rất xấu có 02 tiền sự, 04 tiền án đã được xóa trong đó có 03 tiền án về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thể hiện ý thức coi thường pháp luật, không chịu tu dưỡng, rèn luyện đã quyết định mức hình phạt 08 năm tù đối với bị cáo Trịnh Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là phù hợp. Do vậy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh Quang T và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

[4] Bị cáo kháng cáo không được cấp phúc thẩm chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự,

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh Quang T và giữ nguyên bản án sơ thẩm:

Áp dụng điểm l khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trịnh Quang T 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2017 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về án phí: bị cáo Trịnh Quang T phải nộp 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.


98
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 347/2018/HS-PT ngày 12/06/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:347/2018/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:12/06/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về