Bản án 34/2021/HNGĐ-ST ngày 14/06/2021 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU

 BẢN ÁN 34/2021/HNGĐ-ST NGÀY 14/06/2021 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 14 tháng 06 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoà Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 61/2021/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 03 năm 2021 về tranh chấp xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2021/QĐXX-ST ngày 10 tháng 05 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2021/QĐST- DS ngày 26 tháng 05 năm 2021 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Châu Thị H, sinh năm 1977 (Có đơn xin vắng mặt) Địa chỉ: VL, VT, HB, BL

2. Bị đơn: Anh Đặng Văn C, sinh năm 1978 (Vắng mặt) Địa chỉ: VL, VT, HB, BL

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 23 tháng 03 năm 2021 nguyên đơn là chị Châu Thị H trình bày: chị và anh Đặng Văn C xây dựng hôn nhân vào năm 1997, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, đến năm 2006 mới đăng ký kết hôn tại UBND VT, HB, BL theo số 02/ Quyền số I/2006 ngày 26/07/2006. Quá trình chung sống với nhau chị H và anh C có 02 người con chung tên Đặng Thị Hải P, sinh ngày 24/11/1997 và Đặng Hoàng T, sinh ngày 18/01/2003, hiện nay cháu P và cháu T đều đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung chị H xác định có nhưng do chị H và anh C tự thỏa thuận nên không đặt ra yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Về nợ chung chị H xác định không có.

Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa chị H và anh C là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi dẫn đến mâu thuẫn ngày càng lớn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng chị H đã sống ly thân với nhau từ năm 2019 đến nay. Nay chị H yêu cầu ly hôn với anh C con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra chị H không còn ý kiến trình bày gì thêm.

Theo bị đơn: anh Đặng Văn C không có lời trình bày tại Tòa án. Tuy nhiên, Tòa án có giao Thông báo về việc thụ lý vụ án số 61/TB-TLVA ngày 26 tháng 03 năm 2021, giải thích quyền và nghĩa vụ cho anh C khi nhận văn bản của Tòa án. Nhưng anh C không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị H là nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo. Ngoài ra Tòa án cũng giao Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần 1 và lần 2 cho anh C nhưng anh C không đến dự phiên hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, theo quy định pháp luật nếu bị đơn không cung cấp, tài liệu, chứng cứ cũng như ý kiến của mình thì Tòa án căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.

* Về thủ tục tố tụng:

+ Tòa án tiến hành tống đạt, thông báo cho nguyên đơn là chị H và bị đơn là anh C đúng quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Thẩm quyền giải quyết vụ án đúng quy định tại Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Việc xác định mối quan hệ tranh chấp vụ án đúng quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Xác định tư cách những người tham gia tố tụng chị H là nguyên đơn còn anh C là bị đơn đúng quy định tại khoản 2, 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Thu thập chứng cứ đúng quy định tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Tòa án tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng quy định tại các Điều 208, 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Quyết định đưa vụ án ra xét xử ngày 10/5/2021 và chuyển giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu ngày 13/5/2021 là đúng quy định tại khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.

* Về nội dung đề xuất:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tụng dân sự năm 2015. Căn cứ các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

(1). Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Châu Thị H đối với anh Đặng Văn C.

(2). Về con chung: Không đặt ra xem xét.

(3). Tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét.

(4). Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch: Chị Châu Thị H phải chịu là 300.000đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn giữa nguyên đơn là chị Châu Thị H và bị đơn là anh Đặng Văn C theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giaỉ quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.

Tại phiên toà, chị H và anh C đều vắng mặt. Quá trình giải quyết vụ án, chị H có đơn đề nghị Tòa xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 và 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị H và anh C xây dựng hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND VT, HB, BLnên có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh C là hợp pháp. Xét về nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị H và anh C quá trình giải quyết vụ án thấy rằng cuộc sống của vợ chồng chị H và anh C thường xuyên cự cãi do anh C không lo làm ăn và anh C có người phụ nữ khác bên ngoài, thường xuyên về đánh đập chị từ đó bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn kéo dài ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân chị H và anh C không có thiện chí hàn gắn tình cảm. Điều này cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh C là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.

[3] Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau chị H và anh C có 02 người con chung tên Đặng Thị Hải P, sinh ngày 24/11/1997 và Đặng Hoàng T, sinh ngày 18/01/2003, hiện nay cháu P và cháu T đều đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Chị H xác định có nhưng do chị H và anh C tự thỏa thuận nên không đặt ra yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

[5] Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình,chị H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

[7] Từ những nhận định trên, xét đề nghị của Kiểm sát viên- đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 và 3 Điều 228 Điều 271, của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

1- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Châu Thị H đối với anh Đặng Văn C.

2- Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, chị Châu Thị H phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0010549 ngày 25/03/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoà Bình được chuyển thu án phí.

3- Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


57
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 34/2021/HNGĐ-ST ngày 14/06/2021 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:34/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hòa Bình - Bạc Liêu
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:14/06/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về