Bản án 34/2020/HNGĐ-ST ngày 17/09/2020 về kiện xin ly hôn

A ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 34/2020/HNGĐ-ST NGÀY 17/09/2020 VỀ KIỆN XIN LY HÔN

Trong ngày 17/9/2020 tại Hội trường Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:177/2020/TLST-HNGĐ ngày 24/6/2020 về kiện xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2020/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 9 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:Anh Trần Thái S, sinh năm: 1987

Địa chỉ: Thôn M, xã Q, Thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt

- Bị đơn: Chị Hoàng Thị Thu H, sinh năm: 1986

Địa chỉ: Số nhà X đường P, TDP Y, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Có mặt 

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Về quan hệ hôn nhân:

* Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 15/6/2020, được bổ sung tại bản tự khai, tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn anh Trần Thái S trình bày: Anh và chị Hoàng Thị Thu H có đăng ký kết hôn vào ngày 25/12/2017 tại UBND phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Mặc dù cả hai bên đã ngồi lại nói chuyện tìm phương án khắc phục nhưng không cải thiện được tình hình. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7/2018 cho đến nay. Nay anh S thấy mâu thuẫn không hòa giải được, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên mong muốn được ly hôn với chị H.

* Tại bản tự khai, qua các buổi hòa giải cũng như tại phiên tòa, chị Hoàng Thị Thu H trình bày: Chị và anh Trần Thái S có đăng ký kết hôn vào ngày 25/12/2017 tại UBND phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì. Bản thân anh S sau khi kết hôn thì tiếp tục đi học, qua thời gian về nghỉ hè và tiếp tục ra trường để đi học thì lặng lẽ không nói năng gì với chị H. Chị H đã nhiều lần tìm hiểu và hỏi han thì anh S không nói gì. Khi chị H ra tìm anh S tại trường nơi anh S đang theo học thì anh S không gặp cũng không nói rõ lý do, chỉ nói là hết tình cảm. Nay anh S làm đơn xin ly hôn, chị H không đồng ý ly hôn vì vợ chồng không hề xảy ra mâu thuẫn gì. Chị H mong muốn anh S suy nghĩ lại, vợ chồng đoàn tụ, cùng nhau xây dựng hạnh phúc.

- Về con chung: Anh S và chị H đều thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng chưa có con chung.

- Về chia tài sản chung và nợ chung: Anh S và chị H đều thừa nhận vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng:

Anh Trần Thái S có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới giải quyết ly hôn theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự là nơi bị đơn chị Hoàng Thị Thu H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số nhà X đường P, Tổ dân phố Y, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới.

Sau khi thụ lý vụ án theo đúng thẩm quyền, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới đã ra thông báo thụ lý vụ án và gửi cho các bên đương sự kèm theo giấy triệu tập đến Tòa án để làm bản tự khai. Tòa án tiến hành thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành phiên hòa giải theo quy định của pháp luật. Tại các phiên hòa giải ngày 10/7/2020, ngày 31/7/2020 và ngày 17/8/2020, nguyên đơn và bị đơn đều giữ nguyên quan điểm, anh S xin được ly hôn còn chị H mong muốn vợ chồng được đoàn tụ, nên vụ án hòa giải không thành. Vì vậy, Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng cho các bên đương sự theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Thái S và chị Hoàng Thị Thu H đã xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền, nên đây là một cuộc hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh S tiếp tục theo học nghiệp vụ ở Hà Nội, thực tế vợ chồng sống chung với nhau được thời gian rất ngắn thì xảy ra những mâu thuẫn vì không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm. Do đó vợ chồng bắt đầu sống ly thân từ tháng 7/2018, sau khoảng 06 tháng chung sống cho đến nay. Bản thân anh S thấy hôn nhân không có hạnh phúc và xác định hiện tại tình cảm vợ chồng không còn nên mong muốn được ly hôn với chị H.

Quá trình hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay, chị H cho rằng cuộc sống chung của vợ chồng không hề xảy ra bất cứ mâu thuẫn gì. Chị H cũng không hiểu lý do anh S xin ly hôn là gì và mong muốn anh S suy nghĩ lại, vợ chồng cùng cố gắng để xây dựng hạnh phúc. Tuy đã được hoà giải nhiều lần nhưng tại phiên toà hôm nay nguyện vọng của anh S vẫn xin được ly hôn thì chị H tôn trọng quyết định của anh S và chấp nhận đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống vợ chồng tình cảm mâu thuẫn anh chị đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau, đời sống chung vợ chồng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, tại phiên toà anh chị thống nhất xin được ly hôn nên HĐXX thấy cần chấp nhận công nhận thuận tình ly hôn giữa anh S và chị H là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51, 55 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về nuôi con chung:

Anh S và chị H đều thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng không có con chung.

[2.3] Về chia tài sản và nợ chung:

Anh S và chị H đều thừa nhận vợ chồng không có tài sản gì chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.4] Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 147 BLTTDS; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Áp dụng các Điều 51, 55 Luật Hôn nhân và gia đình;

Xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Công nhân sự thuận tình ly hôn giữa anh Trần Thái Sơn và chị Hoàng Thị Thu H.

2. Về nuôi con chung: Không có.

3. Về tài sản chung: Không có.

4. Về án phí: Các đương sự phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước. Anh Trần Thái S và chị Hoàng Thị Thu H mỗi người phải chịu 150.000 đồng. Tuy nhiên, anh S thỏa thuận chịu nộp thay cho chị H, tổng cộng anh S phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số AA/2017/0006515 ngày 24/6/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới.

Án xử công khai, các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/9/2020) để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm./.


9
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 34/2020/HNGĐ-ST ngày 17/09/2020 về kiện xin ly hôn

Số hiệu:34/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Hới - Quảng Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 17/09/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về