Bản án 34/2019/HS-ST ngày 27/02/2019 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

BẢN ÁN 34/2019/HS-ST NGÀY 27/02/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Vào ngày 27 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 286/2018/HSST, ngày 03 tháng 12 năm 2018, theo quyết định hoãn phiên tòa số 16/2019/HSST-QĐ, ngày 15/02/2019 đối với các bị cáo:

1. Võ Quốc T, sinh năm 1993, tại Cần Thơ; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: ấp N, thị trấn Đ, huyện P, thành phố Cần Thơ; Chỗ ở: Như trên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Cha: Võ Thanh L, sinh năm 1971; Mẹ: Võ Thị A, sinh năm 1970; Anh, chị, em ruột: có 01 người, lớn sinh năm 1995; Vợ: Võ Thị Yến Nh, sinh năm 1997; Con: có 01 người, sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: chưa. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2. Mai Quang Th, sinh năm 1952, tại Thừa Thiên Huế; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: ấp B, xã Tr, huyện P, thành phố Cần Thơ; Chỗ ở: KV C, phường D, quận R, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Mua bán; Cha: Mai Quang S; Mẹ: Nguyễn Thị M; Anh, chị, em ruột: có 02 người, sinh năm 1958 và 1966; Vợ: Nguyễn Thị Thanh L; Con: có 02 người, sinh năm 1978 và 1981; Tiền án, tiền sự: chưa. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Người bị hại: Bà Đỗ Thị Đ (Chết).

Người đại diện hợp pháp:

1. Bà Nguyễn Thị D. (Vắng mặt)

2. Ông Nguyễn Đức H1.

3. Ông Nguyễn Đức H2, sinh năm 1982. (Có mặt)

Cùng cư trú: P23 đường số 4, KDC G, phường P, quận R, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền cho ông H1: Ông Nguyễn Đức H2, sinh năm 1982. (Có mặt)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần vận tải xi măng TĐ. (Viết tắt: Công ty xi măng TĐ)

Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Quang X – Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn V. (Có mặt)

Nơi cư trú: 55/PT tổ 2, khu vực BT, phường L, quận K, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 48 phút ngày 20/9/2017, Võ Quốc T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 65C-064.56, kéo theo sơ mi rơ mooc biển số 65R-003.40 đi từ cầu Hưng Lợi về ngã tư đường I – K thì dừng xe chờ tín hiệu đèn xanh. Khi đèn giao thông báo tín hiệu đèn xanh, T cho xe chạy đi thẳng vào khu vực giao lộ thì đụng vào xe mô tô biển số 65P6-9550 do Mai Quang Th điều khiển chở bà Đỗ Thị Đ ngồi phía sau, chạy cùng chiều phía trước có tín hiệu rẽ trái về hướng cầu Đầu Sấu. Hậu quả: bà Đ té ngã xuống đường, bị bánh xe bên phải của xe ô tô đầu kéo cán qua người tử vong tại chỗ.

Tạm giữ phương tiện, tang vật gồm:

01 xe ô tô đầu kéo biển số 65C-064.56, kéo theo sơ mi rơ mooc biển số 65R - 003.40; 01 giấy phép lái xe bằng nhựa Pet hạng FC mang tên Võ Quốc T;

01 xe mô tô hiệu Yamaha biển số 65P6-9550, bị hư hỏng nặng; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Mai Quang Th; 01 mũ bảo hiểm màu vàng, có vết nứt vỡ.

Tại bản kết luận giám định số: 201/KLGĐ-PC54 ngày 26/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Cần Thơ kết luận: Nạn nhân Đỗ Thị Đ tử vong do dập não, sau vỡ xương sọ.

Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện đã phát hiện các dấu vết và chất bám dính liên quan đến vụ tai nạn, Cơ quan điều tra đã thu mẫu và gửi giám định theo đúng quy định. Kết luận giám định số 534/KL - PC54 ngày 16/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Cần Thơ kết luận:

Mẫu chất màu cam, dính trên biển kiểm soát xe mô tô số 65P6 - 9550 và mẫu sơn màu cam, thu tại cản trước xe ô tô đầu kéo biển số 65C - 064.56, có thành phần hóa học cơ bản giống nhau;

Mẫu chất màu cam, dính trên gác chân sau màu đen của xe mô tô và mẫu sơn màu cam thu tại cản trước xe ô tô đầu kéo biển số 65C - 064.56 có thành phần hóa học cơ bản giống nhau;

Mẫu chất màu xanh, thu trên mặt ngang cản trước xe ô tô đầu kéo biển số 65C-064.56 và mẫu sơn màu xanh trên ốp mủ thân xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Sirius, có thành phần hóa học cơ bản giống nhau… Đã xác định phần cản trước của ô tô đầu kéo biển số 65C-064.56 đã va chạm với phần đuôi bên trái của xe mô tô biển số 65P6 – 9550.

Tại Cơ quan điều tra, Võ Quốc T thừa nhận bản thân khi điều khiển xe đến giao lộ, bị can chỉ quan sát phía trước và phía bên trái của xe để tránh những xe chạy ngược chiều rẽ trái mà không chú ý quan sát phía bên phải của xe nên không phát hiện xe do ông Th điều khiển phía sau chở theo bà Đ nên xảy ra vụ tai nạn. Đối với Mai Quang Th, bị can cũng thừa nhận khi rẽ trái không chú ý quan sát mà chỉ điều khiển xe rẽ trái theo các xe cùng chiều phía trước dẫn đến va chạm với xe T điều khiển làm bà Đ ngã xuống đường và bị xe của T cán qua người.

Tại bản cáo trạng số: 306/CT-VKS-NK, ngày 21 tháng 11 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo Võ Quốc T và Mai Quang Th về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo Khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội đối với các bị cáo: Giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều và không bổ sung gì thêm, đồng thời phân tích tính chất, mức độ, tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 và điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo T và bị cáo Th từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách gấp đôi.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý như sau:

Trả lại cho bị cáo T 01 giấy phép lái xe mang tên Võ Quốc T;

Trả lại cho bị cáo Th 01 xe mô tô hiệu Yamaha biển số 65P6-9550; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Mai Quang Th; 01 mũ bảo hiểm màu vàng.

Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Ninh Kiều đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho Công ty xi măng TĐ 01 xe ô tô đầu kéo biển số 65C-064.56, kéo theo sơ mi rơ mooc biển số 65R-003.40.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc bị cáo Võ Quốc T và Công ty xi măng TĐ liên đới bồi thường cho gia đình nạn nhân số tiền 225.000.000 đồng. Đồng thời, ghi nhận tại phiên tòa gia đình nạn nhân không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Cả hai bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo và xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo để có điều kiện chăm lo cho gia đình và hòa nhập cộng đồng.

Đại diện gia đình người bị hại ông Nguyễn Đức H2 xác định về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho hai bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Th. Về trách nhiệm dân sự đã nhận tổng cộng số tiền bồi thường từ Công ty xi măng TĐ và bị cáo T 225.000.000 đồng và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm. Phía bị cáo Th là người trong gia đình nên gia đình không nhận tiền bồi thường thiệt hại.

Đại diện công ty xi măng TĐ ông V trình bày: Hiện nay, phía công ty đã tạm ứng cho bị cáo T bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần cho phía gia đình người bị hại và không có ý kiến gì thêm về trách nhiệm dân sự. Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thì không tranh luận.

Đại diện Viện kiểm sát tranh luận với quan điểm của ông H2: Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là đã cân nhắc, xem xét các tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo. Việc quyết định mức hình phạt như thế nào thì do Hội đồng xét xử quyết định và không tranh luận gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và trình tự, thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra và truy tố đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo không khiếu nại gì về thủ tục tố tụng.

Đối với người đại diện hợp pháp của người bị hại bà Nguyễn Thị D, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, việc vắng mặt của bà D không gây trở ngại cho việc xét xử do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay cả hai bị cáo đều thừa nhận vào khoảng 14 giờ 48 phút ngày 20/9/2017, Võ Quốc T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 65C-064.56, kéo theo sơ mi rơ mooc biển số 65R-003.40 đi từ cầu Hưng Lợi về ngã tư đường I – đường K thì dừng xe chờ tín hiệu đèn xanh. Khi đèn giao thông báo tín hiệu đèn xanh, T cho xe chạy đi thẳng vào khu vực giao lộ thì đụng vào xe mô tô biển số 65P6-9550 do Mai Quang Th điều khiển chở bà Đỗ Thị Đ ngồi phía sau, chạy cùng chiều phía trước có tín hiệu rẽ trái về hướng cầu Đầu Sấu. Hậu quả: bà Đ té ngã xuống đường, bị bánh xe bên phải của xe ô tô đầu kéo cán qua người tử vong tại chỗ.

Lời thừa nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện, các dấu vết để lại hiện trường; phù hợp về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận, Võ Quốc T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 65C-064.56, kéo theo sơ mi rơ mooc biển số 65R-003.40 đến khu vực giao lộ đã không chú ý quan sát, đụng vào xe mô tô biển số 65P6 - 9550 do Mai Quang Th điều khiển chở bà Đỗ Thị Đ rẽ trái. Bị cáo Th điều khiển xe mô tô biển số 65P6 - 9550 đã không chú ý quan sát khi chuyển hướng tại nơi đường giao nhau, không đảm bảo an toàn cho người và phương tiện khác dẫn đến gây tai nạn. Hành vi của T và Th đã vi phạm khoản 23 Điều 8, khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng là làm bà Đ ngã xuống đường, bị xe đầu kéo do T điều khiển cán qua người tử vong. Các bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức được hành vi lái xe không chú ý quan sát sẽ dễ dẫn đến tai nạn gây hậu quả nghiêm trọng là chết người nhưng vẫn chủ quan, xem thường. Vì vậy, hai bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật. Do vậy, Viện kiểm sát truy tố các bị cáo theo điều luật đã nêu là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo như đã nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, sức khỏe của con người là vô cùng quí giá không có thứ vật chất nào bù đắp được. Hành vi của các bị cáo còn gây mất trật tự an toàn giao thông đường bộ. Khi các bị cáo điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không tuân thủ các qui định của Luật giao thông đường bộ thì cần xử lý nghiêm vì hiện nay tình hình, diễn biến tai nạn giao thông ngày càng có chiều hướng gia tăng và đang báo động, ý thức chấp hành khi tham gia giao thông ngày càng kém dẫn đến số người chết ngày càng nhiều. Do đó, cần có hình phạt tương xứng để giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình lượng hình cũng xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ đối với các bị cáo.

[3]. Về nhân thân các bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố và cũng như tại phiên tòa hôm nay, cả hai bị cáo đều ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, chưa có tiền án và tiền sự. Đối với bị cáo T khi gây ra tại nạn đã đến cơ quan chức năng đầu thú, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại, gia đình người bị hại có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự tuy nhiên đối với hành vi của bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự nhưng đây là tình tiết chứng tỏ thái độ, trách nhiệm tốt của bị cáo để khắc phục một phần nào cho gia đình người bị hại. Ngoài ra, hiện nay bị cáo là lao động chính trong gia đình và có con nhỏ được chính quyền địa phương xác nhận. Đối với bị cáo Th, ngoài các tình tiết đã nêu trên thì xét thấy hiện nay bị cáo đã có tuổi, tại phiên tòa gia đình người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, xin miễn trách nhiệm hình sự, bị cáo có thiện chí bồi thường về trách nhiệm dân sự cho gia đình người bị hại nhưng do là người thân trong gia đình nên gia đình người bị hại không nhận và cũng không yêu cầu. Về tình tiết tăng nặng các bị cáo không có.

Trên cơ sở xem xét toàn diện nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo thì Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, lỗi xảy ra là do lỗi hỗn hợp nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho các bị cáo áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Phía Công ty xi măng TĐ là chủ sở hữu đối với 01 xe ô tô đầu kéo biển số 65C-064.56, kéo theo sơ mi rơ mooc biển số 65R- 003.40 đã giao cho bị cáo T lái trong thời gian thử việc đã gây ra tai nạn dẫn đến hậu quả chết người. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 thì chủ sở hữu nguồn phương tiện cao độ phải bồi thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra vì vậy Hội đồng xét xử thống nhất buộc Công ty xi măng TĐ cùng với bị cáo T bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại số tiền 225.000.000 đồng như đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Tuy nhiên, phía Công ty xi măng TĐ đã cùng bị cáo T bồi thường cho đại diện gia đình người bị hại xong và tại phiên tòa đại diện gia đình người bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên không đặt ra xem xét.

[5]. Về xử lý vật chứng: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Võ Quốc T và Mai Quang Th phạm tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng:

Khoản 1 Điều 202; Điểm b, p Khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Xử phạt: Bị cáo Võ Quốc T 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn Phong Điền, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ là nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Mai Quang Th 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Phú Thứ, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ là nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 41, 42 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên trả cho bị cáo Võ Quốc T 01 giấy phép lái xe bằng nhựa Pet hạng FC mang tên Võ Quốc T và trả 01 xe mô tô hiệu Yamaha biển số 65P6-9550, bị hư hỏng nặng; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Mai Quang Th; 01 mũ bảo hiểm màu vàng, có vết nứt vỡ cho bị cáo Mai Quang Th.

Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Ninh Kiều đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho công ty xi măng TĐ 01 xe ô tô đầu kéo biển số 65C-064.56, kéo theo sơ mi rơ mooc biển số 65R-003.40.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Võ Quốc T và Công ty cổ phần vận tải xi măng TĐ đã bồi thường xong cho gia đình người bị hại số tiền 225.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi lăm triệu đồng) và gia đình người bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên không đặt ra xem xem, giải quyết.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo. Đối với người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


40
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về