Bản án 34/2019/HS-ST ngày 16/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 34/2019/HS-ST NGÀY 16/05/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Vào hồi 07 giờ 30 phút ngày 16 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lò Văn T; tên gọi khác: Không; sinh năm 1984; tại xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản H, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; con ông: Lò Văn D, sinh năm 1959 và con bà: Lò Thị S, sinh năm 1959; bị cáo đã từng có vợ là Lò Thị H; sinh năm 1988 nay đã ly hôn và có 01 người con sinh năm 2007; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2019 đến ngày 19/01/2019 và bị tạm giam từ ngày 19/01/2019 cho đến nay. Bị cáo được trích xuất áp giải và có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Cà Văn Đ; tên gọi khác: Không; sinh năm 1989; tại xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản H, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hoá: Không biết chữ; con ông: Cà Văn P, sinh năm 1952 và con bà: Lò Thị Đ (Lò Thị L), sinh năm 1954; bị cáo có vợ là Lò Thị A sinh năm 1991 và có 01 người con sinh năm 2010; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Bị cáo từng bị xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy vào năm 2012; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2019 đến ngày 19/01/2019 và bị tạm giam từ ngày 19/01/2019 cho đến nay. Bị cáo được trích xuất áp giải và có mặt tại phiên tòa.

* Người có nghĩa vụ liên quan: Lường Văn N; sinh năm: 1978; nơi cư trú: Bản H, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 14/01/2019, Lò Văn T đi bộ đến nhà ông Lường Văn N, sinh năm 1978, trú tại bản H, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên chơi, khi đi đến đó ông N có việc nên đã nhờ T trông nhà hộ nên thành đã ở lại qua đêm tại nhà ông N. Đến khoảng 19 giờ ngày 15/01/2019, có Cà Văn Đ trú cùng bản với T đến nhà ông N chơi và T gặp Đ tại nhà ông N. Khi hai người đang ở nhà ông N chơi, thì cả hai đều lên cơn nghiện ma túy. T đã nói với Đ “Đi mua Heroine về anh em mình chơi”, Đ đã đồng ý và bị cáo T đã đưa cho Đ 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) và nói “Mua hết đi”. Đ cầm tiền đi mua ma túy, còn T ở lại nhà ông N chờ. Đ đi bộ về phía bản K, xã Q, huyện T thì gặp một thanh niên giới thiệu tên C, qua trao đổi Đ mua được của C 01 gói Heroine gói bằng túi nilon màu vàng. Sau khi mua được Heroine, Đ đi về nhà ông N và đưa cho T. T dùng dao lam nhặt được ở nhà ông N, cắt một ít Heroine ra để lên mảnh nilon màu xanh đưa cho Đ sử dụng. Số Heroine còn lại T chia thành 05 gói nhỏ, gói lại bằng mảnh nilon màu xanh giấu trong túi quần bên phải đang mặc để sử dụng dần. Sau đó T đi nấu mì tôm, còn Đ sử dụng hết gói Heroine T đưa rồi ra ăn mì tôm. Cùng lúc đó thì T và Đ bị tổ công tác Công an xã Quài Cang phối hợp với Công an huyện Tuần Giáo phát hiện bắt quả tang thu giữ trên người T 05 gói nhỏ nghi Heroine. Bị cáo Lò Văn T và bị cáo Cà Văn Đ, cùng vật chứng đã được đưa về Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần Giáo để điều tra làm rõ.

Sau khi đưa vật chứng về Cơ quan điều tra, Công an huyện Tuần Giáo thì Cơ quan điều tra đã mở niêm phong có sự chứng kiến của các bị cáo: Đối với 05 gói chất bột màu trắng nghi Heroine thu giữ được xác định khối lượng 0,36 gam và trích 0,09 gam làm mẫu vật gửi giám định. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 43, ngày 25/01/2019. Tại bản Kết luận giám định số: 258/GĐ-PC09 ngày 02/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn T và Cà Văn Đ gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.

Tại Cáo trạng số: 38/CT-VKS ngày 26 tháng 04 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Lò Văn T và bị cáo Cà Văn Đ về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù, bị cáo Cà Văn Đ từ 18 đến 24 tháng tù; không phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu để tiêu hủy 01 gói niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín có khối lượng: 0,27 gam Heroine đựng trong một túi nilon trắng gắn kín lại, 05 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ gói niêm phong dùng để niêm phong vật chứng. Trả lại bị cáo T 500.000đ; trả lại cho bị cáo Cà Văn Đ 01 điện thoại di động Viettel vỏ màu đen đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động hiệu WING vỏ màu xanh đã qua sử dụng; theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi của các bị cáo; thì tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận: Vào khoảng 19 giờ ngày 15/01/2019, bị cáo Đ đã đi mua ma túy của một người đàn ông tên C, bị cáo không quen biết được 01 gói Heroine gói bằng túi nilon màu trắng với giá 400.000đ, số tiền mua ma túy là của bị cáo T. Các bị cáo mua ma túy với mục đích để sử dụng, vì các bị cáo đều nghiện ma túy. Khi mua không cân xác định khối lượng và cũng không có ai tham gia cùng. Khi bị phát hiện bắt quả tang, Cơ quan điều tra thu giữ vật chứng, khi mở niêm phong xác định khối lượng thì các bị cáo đều được chứng kiến và thừa nhận khối lượng thu giữ là 0,36 gam Heroine được xác định là hoàn toàn chính xác. Xét lời nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp nội dung cáo trạng và tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lò Văn T và bị cáo Cà Văn Đ đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố và Kiểm sát viên luận tội là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần xử lý nghiêm minh nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Xét tình tiết định khung hình phạt đối với các bị cáo: Khối lượng Heroine bị thu giữ là 0,36 gam; nằm trong khoảng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; số ma túy đã bị thu giữ nhằm mục đích sử dụng; bởi vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự có mức hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.

[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:

Đối với bị cáo Lò Văn T: Từ nhỏ sống phụ thuộc gia đình được gia đình nuôi ăn học hết lớp 12/12. Năm 2006 - 2007 Học viên Trường trung cấp kinh tế tỉnh Điện Biên; năm 2008 công chức Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; năm 2005 kết hôn với chị Lò Thị H, năm 2017 ly hôn và có 01 người con; ngày 21/9/2011 Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 21/9/2018 xóa tên đảng viên; Năm 2014 nghiện chất ma túy, năm 2017 nghỉ việc. Đến ngày 18/01/2019 bị Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần Giáo khởi tố về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, bị cáo được bố mẹ cho ăn học hết lớp 12/12 và được gia đình cho học chuyên nghiệp và có nghề nghiệp ổn định, đồng thời bị cáo còn là đảng viên; như vậy bị cáo đã có những kiến thức và nhận thức về tác hại của ma túy. Nhưng vì không vượt qua khỏi những cám dỗ và rủ rê của bạn bè; vì muốn thể hiện bản thân nên bị cáo đã mắc phải tệ nạn nghiện ma túy vào năm 2014. Cũng chính từ nghiện ma túy để thỏa mãn cơn nghiện ma túy nên bị cáo đã bất chấp quy định của Pháp luật để mua ma túy với mục đích tàng trữ để sử dụng. Bởi vậy, Hội đồng xét xử cần có mức hình phạt nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho gia đình và xã hội và cũng là cơ hội để giúp bị cáo cai nghiện ma túy.

Đối với bị cáo Cà Văn Đ: Từ nhỏ sống phụ thuộc gia đình, không đi học mà chỉ ở nhà lao động sản xuất nông nghiệp cùng gia đình. Đến năm 2010 lập gia đình.

Ngày 16/7/2012, bị Công an huyện Quỳnh Nhai - Tỉnh Sơn La bắt và đến ngày 07/11/2012, Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai – Tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; ngày 23/9/2014 chấp hành xong bản án về địa phương sinh sống tại bản H, xã Q. Đến ngày 18/01/2019 bị Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần Giáo khởi tố về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, mặc dù không được đi học nhưng bị cáo nhận thức về tác hại của ma túy; hơn nữa bị cáo đã một lần nhận được sự cải tạo giáo dục của Nhà nước nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện, phấn đấu mà sau khi chấp hành xong hình phạt tù về địa phương bị cáo lại tiếp tục tái nghiện. Để thỏa mãn cơn nghiện ma túy bị cáo đã bất chấp quy định của Pháp luật, bị cáo đã đi mua ma túy cho T để có ma túy sử dụng. Bởi vậy, Hội đồng xét xử cần có mức hình phạt nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho gia đình và xã hội và cũng là cơ hội để giúp bị cáo cai nghiện ma túy.

[5] Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định; các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét điều kiện hoàn cảnh của các bị cáo không có khả năng thi hành; nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên mức hình phạt đối với mỗi bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù; Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với tính chất mức độ hành vi của các bị cáo nên cần chấp nhận.

[7] Trong vụ án này xét thấy, đây là vụ án có đồng phạm. Trong đó bị cáo T là người khởi xướng và đồng thời các bị cáo đều giữ vai trò thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

[8] Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, bị cáo Đ khai do bị cáo mua của người đàn ông giới thiệu tên C, tuy nhiên bị cáo không biết địa chỉ của người này, do đó không có cơ sở để xác minh điều tra xử lý, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng cần căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 để xử lý vật chứng như sau: Tịch thu để tiêu hủy 01 gói niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín có khối lượng: 0,27 gam Heroine đựng trong một túi nilon trắng gắn kín lại, 05 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ gói niêm phong dùng để niêm phong vật chứng. Trả lại bị cáo Lò Văn T 500.000đ; trả lại cho bị cáo Cà Văn Đ 01 điện thoại di động Viettel vỏ màu đen đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động hiệu WING vỏ màu xanh đã qua sử dụng.

[9] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án các bị cáo đủ điều kiện để miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Các bị cáo không có ý kiến khiếu nại các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của Pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T và bị cáo Cà Văn Đ phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Hình phạt:

Xử phạt bị cáo Lò Văn T 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/01/2019.

Xử phạt bị cáo Cà Văn Đ 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/01/2019.

3. Vật chứng: Tịch thu để tiêu hủy 01 gói niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín có khối lượng: 0,27 gam Heroine đựng trong một túi nilon trắng gắn kín lại, 05 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ gói niêm phong dùng để niêm phong vật chứng. Trả lại bị cáo Lò Văn T 500.000đ; trả lại cho bị cáo Cà Văn Đ 01 điện thoại di động Viettel vỏ màu đen đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động hiệu WING vỏ màu xanh đã qua sử dụng. Đặc điểm vật chứng nói trên được ghi theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/5/2019 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo.

4. Án phí: Bị cáo Lò Văn T và bị cáo Cà Văn Đ được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 16/5/2019).

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

181
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 34/2019/HS-ST ngày 16/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:34/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tuần Giáo - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 16/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về