Bản án 34/2019/HNGĐ-ST ngày 31/05/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 34/2019/HNGĐ-ST NGÀY 31/05/2019 VỀ LY HÔN

Trong ngày 31 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 81/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2019 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2019/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trương Thu H, sinh năm 1989

Địa chỉ: Ấp R, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt).

2. Bị đơn: Anh Khưu Văn T, sinh năm 1986

Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án chị Trương Thu H trình bày như sau:

Chị H và anh T kết hôn với nhau vào năm 2008 hôn nhân tự nguyện được gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương và thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang vào ngày 12/02/2008.

Sau khi cưới được bốn tháng thì chị H phát hiện anh T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác và thường xuyên qua lại với người này. Khi chị H nói chuyện với chồng thì anh T cũng thừa nhận việc có quan hệ với người khác, chị H đã khuyên nhủ chồng từ bỏ quan hệ với người phụ nữ này nhưng anh T xác định không từ bỏ được. Đến năm 2009 chị H bỏ về nhà cha mẹ ruột sống ly thân với chồng và nay xin được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị H xác định vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Chị H xác định không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị H tiếp tục xin ly hôn với anh T.

Quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa - bị đơn anh Khưu Văn T vắng mặt và không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu xin ly hôn của chị H.

Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Giấy chứng nhận kết hôn; giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu của nguyên đơn (Bản công chứng). Bị đơn không cung cấp chứng cứ.

Kết quả xác minh từ chính quyền địa phương cho biết: Vợ chồng chị H và anh T xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác mà không thể chấm dứt được. Do mâu thuẫn vợ chồng không hàn gắn và ngày càng trầm trọng nên anh chị ly thân với nhau.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng (Nguyên đơn) đảm bảo đúng theo quy định; đề nghị áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn. Không có đề xuất về phần tố tụng.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị H được ly hôn với anh T. Về con chung, tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Các đương sự cùng có nơi cư trú trên địa bàn huyện A. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

Tại phiên tòa anh T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt anh T.

[2] Về nội dung vụ án:

Quan hệ pháp luật: Chị H xin ly hôn với anh T nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn”.

Chị H và anh T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện A theo quy định của pháp luật, do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh T vắng mặt đồng thời không gửi văn bản nêu ý kiến trước yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H. Qua lời trình bày của chị H và kết quả xác minh từ địa phương được biết sau khi cưới vợ chồng chị H và anh T đã xảy ra mâu thuẫn do anh T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, chị H đã khuyên anh T từ bỏ để cùng xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng anh T xác định không thể từ bỏ được người phụ nữ đó nên mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn dẫn tới vợ chồng đã ly thân khoảng 11 năm nay, không ai còn quan tâm tới ai. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã mở phiên hòa giải để hòa giải đoàn tụ nhưng anh T không chấp hành theo giấy mời, không thể hiện thiện chí hàn gắn hôn nhân. Vợ chồng đã ly thân trong thời gian dài, đến nay không ai muốn hàn gắn hôn nhân do đó có sơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của chị Hcho chị H được ly hôn với anh T.

Về con chung: Các đương sự không có con chung nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Các đương sự không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. 

[3] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 144 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc chị H là nguyên đơn chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Về ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát huyện An Biên tại phiên tòa là có cơ sở và căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử đã xem xét và ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trương Thu H và anh Khưu Văn T.

2. Về con chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Các đương sự không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trương Thu H có nghĩa vụ nộp tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002066 ngày 18/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh Kiên Giang. Chị Trương Thu H đã nộp đủ án phí.

5. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 31/5/2019). Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".


43
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 34/2019/HNGĐ-ST ngày 31/05/2019 về ly hôn

Số hiệu:34/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện An Biên - Kiên Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:31/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về