Bản án 34/2018/HNGĐ-ST ngày 20/08/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 34/2018/HNGĐ-ST NGÀY 20/08/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 20 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N - tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 18/2018/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2018 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2018/QĐST - HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H - sinh năm: 1976;

Hộ khẩu thường trú: Thôn Tân Đức Đ, xã Vạn L, huyện N, tỉnh Khánh Hòa. Chỗ ở hiện nay: Thôn Quảng P, xã Vạn L, huyện N, tỉnh Khánh Hòa.

Có mặt.

- Bị đơn: Anh Ngô Quốc H1 - sinh năm: 1975;

Trú tại: Thôn Tân Đức Đ, xã Vạn L, huyện N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện gởi đến Tòa án đề ngày 06/01/2018, biên bản lấy lời khai ngày 16/01/2018 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Ngô Quốc H1 tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 1995 và đến năm 2001 thì đăng ký kết hôn tại UBND xã Vạn L, huyện N, tỉnh Khánh Hòa. Giấy chứng nhận kết hôn số 59 cấp ngày 09/7/2001.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do giữa vợ chồng có nhiều bất đồng về quan điểm sống, tính tình vợ chồng không hợp, không tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau và do anh H1 không lo chí thú làm ăn mà đam mê rượu chè nên giữa vợ chồng thường xảy ra xích mích, cải vã, anh H1 nhiều lần đánh đập, xúc phạm chị H. Từ tháng 12 năm 2017, vợ chồng đã mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm, chăm sóc ai. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn và yêu cầu xin được ly hôn.

- Về con chung: Có 03 (ba) con chung là Ngô Thị Kim L - sinh ngày 20/12/1995, Ngô Thị Kim Th – sinh ngày 19/8/1997 và Ngô Quốc H2 – sinh ngày 25/10/2000. Hai con chung Ngô Thị Kim L và Ngô Thị Kim Th hiện đã trưởng thành, con chung Ngô Quốc H2 hiện đang do chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị H yêu cầu khi vợ chồng ly hôn thì được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là Ngô Quốc H2 – sinh ngày 25/10/2000 cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị H xác định giữa vợ chồng không có nợ chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn anh Ngô Quốc H1 đến Tòa để Tòa án lấy lời khai và tham gia phiên hòa giải nhưng anh H1 đều không có mặt để làm việc theo Giấy triệu tập và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải của Toà án, nên Toà án không lấy được lời khai và không hòa giải được vụ án.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N phát biểu: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Tòa án chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Ngô Quốc H1 là bị đơn đã được Tòa án nhân dân huyện N triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H1.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H1 kết hôn tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã Vạn L, huyện N cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 59 ngày 09 tháng 7 năm 2001. Nên quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị H và anh Ngô Quốc H1 được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Tại phiên tòa chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Ngô Quốc H1. Xét lời khai của chị H thì thấy cuộc sống chung vợ chồng giữa chị H và anh H1 có nhiều mâu thuẫn và không tìm được phương pháp nào để tiếp tục sống chung với nhau nữa. Anh H1 đam mê rượu chè và thường xuyên đánh đập chị H, vợ chồng thường xảy ra xích mích, cãi vã, xúc phạm nhau. Từ tháng 12 năm 2017 vợ chồng đã mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm, chăm sóc ai. Như vậy mâu thuẫn giữa chị H và anh H1 đã đến hồi trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án, anh H1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến Tòa để Tòa án lấy lời khai và tham gia phiên hòa giải để giải quyết việc ly hôn giữa hai người nhưng anh H1 đã không có mặt để làm việc theo giấy triệu tập của Toà án. Điều đó chứng tỏ anh H1 không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này nữa nên việc chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H1 là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu này của chị H.

[3] Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H yêu cầu khi vợ chồng ly hôn thì được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là Ngô Quốc H2 – sinh ngày 25/10/2000.

Xét: Hiện nay con chung Ngô Quốc H2 – sinh ngày 25/10/2000 đang do chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 16/3/2018 cháu H2 yêu cầu được sống chung với mẹ. Xét yêu cầu của chị H về việc được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thì thấy nên giao cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) là có căn cứ và đúng luật.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không xem xét.

[5] Về nợ chung: Chị H xác định vợ chồng không nợ của ai, không ai nợ của vợ chồng.

[6] Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điều 28, 35, 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

- Chị Trần Thị H được ly hôn với anh Ngô Quốc H1.

- Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao cho chị Trần Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên Ngô Quốc H2 – sinh ngày 25/10/2000 cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) và chị Trần Thị H không yêu cầu anh Ngô Quốc H1 cấp dưỡng nuôi con.

Anh Ngô Quốc H1 được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị H, anh H1 đều có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con chung cũng như cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Chị Trần Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0013955 ngày 16 tháng 01 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh. Chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. 

3. Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, quyền kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà xét xử phúc thẩm.

 Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


110
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 34/2018/HNGĐ-ST ngày 20/08/2018 về ly hôn

    Số hiệu:34/2018/HNGĐ-ST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vạn Ninh - Khánh Hoà
    Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
    Ngày ban hành:20/08/2018
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về