Bản án 34/2018/DS-ST ngày 02/10/2018 về tranh chấp hợp đồng hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 34/2018/DS-ST NGÀY 02/10/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG HỤI

Ngày 02/10/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 98/2018/TLST-DS ngày 20/8/2018 về “Tranh chấp hợp đồng hụi” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2018/QĐXXST-DS ngày 13/9/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phan Thị T, sinh năm 1958. Địa chỉ: ấp C, xã Th, huyện V, tỉnh Long An.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1970 và ông Ngô Văn Tr, sinh năm 1971. Cùng địa chỉ: ấp C, xã Th, huyện V, tỉnh Long An.

(Bà T, ông Tr có mặt, bà C vắng mặt lần 2 không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 14/8/2018 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phan Thị T trình bày:

Bà Nguyễn Thị C và ông Ngô Văn Tr có tham gia chơi hụi do bà làm chủ thảo, bà C và ông Tr hốt hụi nhưng không đóng hụi chết lại cho bà vào vụ đông xuân năm 2018 và một phần hụi sống chưa đóng, bà đã choàng cho các thành viên hốt hụi với số tiền 26.500.000 đồng, cụ thể như sau:

- Dây hụi mùa 5.000.000 đồng (mỗi năm khui 02 lần vào vụ đông xuân và hè thu), bắt đầu khui vụ hè thu năm 2013 (ngày 19/5/2013), có 14 thành viên, vợ chồng bà C tham gia 02 phần và đã hốt 02 phần, vào ngày 06/6/2016 hốt phần thứ nhất được số tiền 51.500.000 đồng, ngày 09/02/2017 hốt phần thứ 02 được số tiền 42.500.000 đồng. Sau đó vợ chồng bà C có đóng hụi chết, đến vụ hè thu 2018 vợ chồng bà C không đóng nên còn thiếu số tiền 10.000.000 đồng.

- Dây hụi mùa 5.000.000 đồng (mỗi năm khui 02 lần vào vụ đông xuân và hè thu), có 14 thành viên, bắt đầu khui vụ đông xuân năm 2014 (ngày 16/3/2014), vợ chồng bà C tham gia 02 phần và đã hốt 01 phần được số tiền 43.000.000 đồng. Sau đó vợ chồng bà C có đóng hụi chết, đến vụ hè thu 2018 vợ chồng bà C không đóng nên còn thiếu số tiền hụi chết là 5.000.000 đồng và hụi sống 01 phần là 3.500.000 đồng.

- Dây hụi mùa 5.000.000 đồng (mỗi năm khui 02 lần vào vụ đông xuân và hè thu), có 14 thành viên, bắt đầu khui vụ hè thu năm 2012 (ngày 29/6/2012), vợ chồng bà C tham gia 01 phần và đã hốt được số tiền 42.000.000 đồng. Sau đó vợ chồng bà C có đóng hụi chết, đến vụ hè thu 2018 vợ chồng bà C không đóng nên còn thiếu số tiền hụi chết là 5.000.000 đồng.

- Dây hụi mùa 3.000.000 đồng (mỗi năm khui 02 lần vào vụ đông xuân và hè thu), có 16 thành viên, bắt đầu khui vụ đông xuân năm 2012 (ngày 09/3/2012), vợ chồng bà C tham gia 01 phần và đã hốt được số tiền 28.200.000 đồng vào ngày 02/6/2015. Sau đó vợ chồng bà C có đóng hụi chết, đến vụ hè thu 2018 không đóng nên còn thiếu số tiền hụi chết là 3.000.000 đồng.

Tại phiên tòa bà Phan Thị T yêu cầu bà Nguyễn Thị C và ông Ngô Văn Tr trả số tiền 26.500.000 đồng và yêu cầu trả một lần.

Bị đơn ông Ngô Văn Tr trình bày: Ông thống nhất lời trình bày của bà Phan Thị T về việc vợ chồng ông có tham gia các dây hụi, số tiền hốt hụi, chưa đóng hụi vụ hè thu năm 2018 cho bà Phan Thị T với số tiền 26.500.000 đồng, trong đó 23.000.000 đồng tiền hụi chết và 3.500.000 đồng tiền hụi sống.

Tại phiên tòa, ông Ngô Văn Tr đồng ý trả số tiền 26.500.000 đồng cho bà Phan Thị T nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên xin trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng.

Bị đơn bà Nguyễn Thị C: Từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bà C không thể hiện ý kiến, tại phiên tòa bà C vắng mặt lần thứ hai không lý do

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngày 14/8/2018 bà Phan Thị T có đơn yêu cầu Toà án nhân dân huyện Vĩnh Hưng giải quyết buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị C và ông Ngô Văn T trả số tiền hụi làm phát sinh quan hệ tranh chấp hợp đồng hụi. Đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Do bà C và ông Tr cư trú tại xã V, huyện V, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung khởi kiện:

Việc thỏa thuận góp hụi giữa các bên là sự tự nguyện, bị đơn ông Ngô Văn Tr thống nhất, đến kỳ đóng hụi vụ hè thu năm 2018 bà Nguyễn Thị C và ông Ngô Văn Tr chưa đóng, bà Phan Thị T đã choàng đóng hụi cho các thành viên và ông Tr thừa nhận còn thiếu bà Phan Thị T 26.500.000 đồng nên phải có trách nhiệm trả cho bà T. 

Do đó vợ chồng bà Nguyễn Thị C và ông Ngô Văn Tr phải có nghĩa vụ trả cho bà Phan Thị T tổng số tiền là 26.500.000 đồng.

Việc ông Ngô Văn Tr xin được trả dần số nợ trên nhưng nguyên đơn bà Phan Thị T không đồng ý và pháp luật không quy định trả dần nên không được chấp nhận.

[3] Án phí: Do được chấp nhận yêu cầu nên nguyên đơn được hoàn lại tiền tạm ứng án phí, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3, Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Căn cứ Điều 479 Bộ luật dân sự năm 2005; Căn cứ các Điều 471 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu, phường; Căn cứ Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị T về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị C và ông Ngô Văn Tr liên đới trả số tiền 26.500.000 đồng.

Buộc bà Nguyễn Thị C và ông Ngô Văn Tr liên đới trả cho bà Phan Thị T 26.500.000 đồng (Hai mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.

2. Về án phí:

Buộc bà Nguyễn Thị C và ông Ngô Văn Tr phải liên đới nộp 1.325.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho bà Phan Thị T 663.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng theo biên lai số 0004921 ngày 20/8/2018.

Báo cho các đương sự được biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


67
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 34/2018/DS-ST ngày 02/10/2018 về tranh chấp hợp đồng hụi

Số hiệu:34/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vĩnh Hưng - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 02/10/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về