Bản án 334/2017/HSST ngày 29/09/2017 về tội chứa mại dâm

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 334/2017/HSST NGÀY 29/09/2017 VỀ TỘI CHỨA MẠI DÂM

Mở phiên tòa công khai ngày 29/9/2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 329/2017/HSST, ngày 15/9/2017 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Trần T H, sinh năm 1958

ĐKNKTT: xóm 1, xã Đ L, huyện T H, tỉnh T B.

Nghề nghiệp: Tự do Văn hoá: 9/10

Con ông: Trần N (đã chết). Con bà: Đỗ Thị T (đã chết).

Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ ba. Có chồng: Trần P, sinh năm 1956, có 02 con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/7/2017 sau chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Nam Định.

2. Họ và tên: Trịnh H M, sinh năm 1957.

ĐKNKTT: xóm 8, xã N T, huyện N T, tỉnh N Đ.

Nghề nghiệp: Tự do Văn hóa: 9/10

Con ông: Trịnh Q V (đã chết).

Con bà: Cao T G (đã chết).

Gia đình có 06 chị em, bị cáo là con thứ ba.

Có vợ: Hoàng T T, sinh năm 1974, có 02 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/7/2017 sau chuyển tạm giam. Ngày 06/9/2017 được thay đổi biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.(các bị cáo có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18h30’ ngày 30/6/2017 Phạm X H và Đặng Văn C ngồi uống rượu cùng nhau thì H rủ C đi tìm gái bán dâm để quan hệ tình dục. Đến khoảng 19h50’ cùng ngày, Phạm Xuân H và C đi taxi đến nhà nghỉ Nhật Hoàng tại số 462 Đặng Xuân Bảng, xã Nam Vân, thành phố Nam Định mục đích để tìm gái Bán dâm. Khi đến nơi, cả hai gặp Trần T H là quản lý của nhà nghỉ và Trịnh H M là nhân viên bảo vệ kiêm lễ tân của nhà nghỉ đặt vấn đề tìm gái mại dâm để mua dâm. Tại đây, Phạm Xuân H và C nói với Trần T H: “Cô bố trí cho anh em cháu 02 em” ý của Phạm Xuân H và C muốn bảo Trần T H gọi cho 02 gái bán dâm để quan hệ tình dục. Trần T H hiểu ý và hỏi: “Các cháu “đi nhanh” hay “qua đêm”, Phạm Xuân H và C trả lời: “Bọn cháu đi nhanh”, sau đó Phạm Xuân H đưa 500.000đ là tiền mua dâm của Phạm Xuân H và C cho M cầm. Sau khi M cầm tiền thì Trần T H bảo C vào phòng 205 còn Phạm Xuân H vào phòng 206 của nhà nghỉ để đợi gái bán dâm. Sau đó Trần T H tiếp tục bảo M lên phòng 203 của nhà nghỉ trên để gọi gái bán dâm là Sầm Thị H và Nguyễn Thị H xuống bán dâm cho C và Phạm Xuân H. Đến khoảng 20h30’ cùng ngày tổ công tác đội Quản lý hành chính - CATP Nam Định tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà nghỉ Nhật Hoàng phát hiện, bắt quả tang Phạm Xuân H, H và C, H đang thực hiện hành vi mua bán dâm với nhau tại phòng 205 và 206 của nhà nghỉ trên. Ngoài ra, tổ công tác còn kiểm tra tại phòng 203 của nhà nghỉ trên có Lương Thị X là gái bán dâm đang ở một mình chờ đến lượt bán dâm cho khách. Trong quá trình kiểm tra, tổ công tác đã thu giữ những vật chứng sau:

- Thu giữ tại phòng 205: 01 bao cao su (đã qua sử dụng); 01 điện thoại OPPO màu trắng (đã qua sử dụng); 01 điện thoại Mastel (đã qua sử dụng) và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng.

- Thu giữ tại phòng 206: 02 bao cao su (trong đó có 01 bao cao su đã qua sử dụng); 01 điện thoại OPPO F1S màu trắng (đã qua sử dụng) và 02 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng;

- Thu giữ của Trần Thị H: 01 điện thoại NOKIA màu đen (đã qua sử dụng) và 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng.

Tổ công tác đã đưa các đối tượng cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở công an để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định pháp luật.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Xuân H và C đã khai nhận việc rủ nhau đi tìm gái mại dâm để quan hệ tình dục như trên.

Trần Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Ngoài ra, H còn khai: H được Trần Trọng H là chủ nhà nghỉ Nhật Hoàng thuê làm quản lý nhà nghỉ với mức lương 3.000.000 đồng/1 tháng từ đầu tháng 01/2017 đến nay. Khi H, H và X đến gặp H để xin làm gái bán dâm tại nhà nghỉ thì H có gọi điện cho H, H đồng ý nên H đã nhận H, H và X vào làm gái bán dâm tại nhà nghỉ.

Trịnh Huy M đã khai nhận hành vi phạm tội đã nêu ở trên. Ngoài ra, M còn khai: M được Trần Thị H thuê làm bảo vệ, trông xe tại nhà nghỉ Nhật Hoàng với mức lương 2.500.000 đồng/1 tháng từ tháng 6/2016 đến nay. Trong thời gian làm việc tại nhà nghỉ, M biết H, H và X là 3 gái bán dâm được Trần Thị H nhận vào làm việc, cho phép ăn ở, sinh hoạt và bán dâm cho khách khi khách có nhu cầu ngay tại nhà nghỉ Nhật Hoàng. Bản thân M không biết H (là chủ nhà nghỉ Nhật Hoàng) có biết việc H, H và X là gái bán dâm hoạt động tại nhà nghỉ hay không.

Ba gái bán dâm là H, H và X đã khai nhận hành vi bán dâm nêu trên. Ngoài ra, 3 gái bán dâm còn khai: H, H và X được Trần Thị H trực tiếp nhận vào làm gái bán dâm tại nhà nghỉ Nhật Hoàng và thống nhất số tiền bán dâm với Trần Thị H như sau:

- Số tiền bán dâm “nhanh” cho khách là 250.000 đồng/1 lần/1 khách, trong đó: H, H, X được hưởng 100.000 đồng còn H giữ lại 150.000 đồng. Số tiền bán dâm “qua đêm” cho khách là 500.000 đồng/1 lần/1 khách, trong đó: H, H, X được hưởng 300.000 đồng còn H giữ lại 200.000 đồng. Tất cả tiền bán dâm cho khách thì Trần Thị H và Trịnh Huy M trực tiếp nhận tiền đến trưa ngày hôm sau H sẽ thanh toán tiền bán dâm cho H, H và X. 03 gái bán dâm có gặp Trần Trọng H (là chủ nhà nghỉ Nhật Hoàng) khoảng 1-2 lần nhưng đều không nói chuyện với H và không biết H có biết H, H, X được Trần Thị H nhận vào làm gái bán dâm tại nhà nghỉ Nhật Hoàng hay không.

Cơ quan cảnh sát điều tra - CATP Nam Định đã triệu tập Trần Trọng H, tại cơ quan điều tra, H khai: Hiện nay H đứng tên kinh doanh nhà nghỉ Nhật Hoàng, H thuê Trần Thị H làm quản lý kiêm lễ tân, dọn dẹp phòng với mức lương 3.000.000 đồng/1 tháng, sau này H thuê M làm bảo vệ nhà nghỉ và đã thông báo để H biết, H đồng ý. Ngoài ra, H không biết việc H, H và X là gái bán dâm, ăn ởsinh hoạt và bán dâm tại nhà nghỉ Nhật Hoàng vì Trần Thị H không nói cho H biết về việc này.

Cơ quan CSĐT – CATP Nam Định đã tiến hành đối chất giữa Trần Thị H và Trần Trọng H, giữa Trần Thị H và Trịnh Huy M để làm rõ Trần Trọng H có đồng phạm với H và M không. Tại các lần đối chất Trần Thị H, H, M vẫn giữ nguyên lời khai của mình.

Cáo trạng số: 336/QĐ-KSĐT ngày 15/9/2017, Viện kiểm sát (VKS) nhân dân thành phố Nam Định đã truy tố bị cáo Trần Thị H và Trịnh Huy M về tội: “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 254 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị HĐXX.

Áp dụng khoản 1 Điều 254; điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 53 BLHS năm 1999. (Bị cáo Trịnh Huy M áp dụng thêm Điều 60 BLHS). Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.

Xử phạt bị cáo Trần Thị H từ 12 đến 15 tháng tù.

Xử phạt bị cáo Trịnh Huy M từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách gấp đôi, bị cáo được trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 01/7/2017 đến ngày 06/9/2017. Miễn hình phạt tiền cho các bị cáo.

Áp dụng Điều 41 BLHS và Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghi HĐXX xử lý vật chứng đã thu giữ.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe bị cáo khai báo, nghe ý kiến của VKS.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

 [1] Quá trình tiến hành tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tố tụng đều thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các chứng cứ: Biên bản vụ việc, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, lời khai của Phạm Xuân H, Đặng Văn C, Sầm Thị H và Nguyễn Thị H, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà cùng các tài liệu khác trong hồ sơ đã có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 20h40’ ngày 30/6/2017 tại nhà nghỉ Nhật Hoàng số 462, đường Đặng Xuân Bảng, xã Nam Vân, thành phố Nam Định, Trần Thị H và Trịnh Huy M đã có hành vi “Chứa mại dâm” để Sầm Thị H và Nguyễn Thị H bán dâm cho Phạm Xuân H và Đặng Văn C với giá 250.000 đồng/ 1 lần/ 1 khách thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 254 BLHS.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến trật tự công cộng, làm gia tăng tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đức và đi ngược lại với lợi ích chung của toàn xã hội. Các bị cáo cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên là đồng phạm. HĐXX sẽ xem xét áp dụng hình phạt tương xứng với từng bị cáo trong đồng phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại CQĐT cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, HĐXX áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo Trần Thị H gây ra, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát, HĐXX quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Trần Thị H nhằm trừng trị, đồng thời giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Đối với bị cáo Trịnh Huy M tham gia vụ án với vai trò đồng phạm giúp sức, có nơi cư trú rõ ràng HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương như đề nghị của vị đại diện VKS cũng đủ răn đe giáo dục bị cáo.

[4] Về vật chứng của vụ án: 03 bao cao su trong đó có 02 bao cao su đã qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; số tiền 600.000đ là do phạm tội mà có cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; một điện thoại di động Nokia thu giữ của Trần Thị H xét không liên quan đến vụ án cần trả lại bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Số vật chứng còn lại cơ quan điều tra đã trả lại cho Nguyễn Thị H và Sầm Thị H.

Đối với Trần Trọng H đang hoạt động kinh doanh dịch vụ nhà nghỉ, đây là ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự nhưng lại không có giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự nên Công an thành phố Nam Định đã xử phạt hành chính đối với H. Hiện tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận hành vi đồng phạm của H với Trần Thị H, Trịnh Huy M trong vụ án nên cơ quan CSĐT đã tách ra tiếp tục điều tra khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với Phạm Xuân H, Đặng Văn C và Sầm Thị H, Nguyễn Thị H là những người đã có hành vi mua bán dâm, hành vi này không cấu thành tội phạm nên Công an thành phố Nam Định đã xử phạt hành chính.

 [5] Án phí HSST: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Trần Thị H và Trịnh Huy M phạm tội: “Chứa mại dâm”

Áp dụng khoản 1 Điều 254; điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 20 BLHS năm 1999. (bị cáo Trịnh Huy M áp dụng thêm Điều 60 BLHS năm 1999)

Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.

- Xử phạt bị cáo: Trần Thị H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/7/2017

- Xử phạt bị cáo Trịnh Huy M 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 29/9/2017. (bị cáo được trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 01/7/2017 đến ngày 06/9/2017) Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N T, huyện N T, tỉnh Nam Định giám sát và giáo dục. Trong trường hợp bị cáo Trịnh Huy M thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

2. Xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 41 BLHS; Điều 76 BLTTHS: Tuyên tịch thu tiêu hủy ba bao cao su trong đó có 02 bao cao su đã qua sử dụng, tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng), trả lại cho bị cáo Trần Thị H một điện thoại di động Nokia đã cũ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. (biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/8/2017)

3. Án phí:

Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Trần Thị H và Trịnh Huy M mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


93
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về