Bản án 332/2018/HS-PT ngày 22/06/2018 về tội giết người

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 332/2018/HS-PT NGÀY 22/06/2018 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 22 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 630/2017/TLPT-HS ngày ngày 13/11/2017 đối với bị cáo Phạm Minh Nh do có kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2017/HSST ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng;

- Bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo: Phạm Minh Nh, sinh năm 1987 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi ĐKHKTT: Thôn ĐL II, xã LĐ, huyện BL, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Thôn ĐL II, xã LĐ, huyện BL, tỉnh Lâm Đồng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; trình độ văn hóa: 11/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Phạm Đình K, sinh năm 1942 và con bà Phan Thị V, sinh năm 1945; gia đình bị cáo có 07 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1968, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt ngày 18/12/2016; (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Văn Kh – Luật sư Đoàn Luật sư tỉnh Lâm Đồng, (có mặt).

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại có kháng cáo: Ông Nguyễn Công B, sinh năm 1954; nơi cư trú: Thôn ĐL I, xã LĐ, huyện BL, tỉnh Lâm Đồng, (có mặt).

- Người được triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm để trình bày các vấn đề liên quan đến vụ án: Hà Chí N, sinh năm 1987; Nơi ĐKHKTT: Thôn ĐL II, xã LĐ, huyện BL, tỉnh Lâm Đồng; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lâm đồng; (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn từ trước với Nguyễn Công M, sinh năm 1988, trú tại thôn ĐL II, xã LĐ, huyện BL, tỉnh Lâm Đồng nên khoảng 19 giờ 00 ngày 13/12/2016 sau khi uống rượu, Hà Chí N rủ Phạm Minh Nh đi đánh nhau thì Nh đồng ý. N đưa cho Nh 01 dao phát dài khoảng 50cm, cán gỗ, mũi dao cong rồi điều khiển xe chở Nh. Trên đường đi N ghé vào quán tạp hóa mua 02 chiếc khẩu trang rồi mỗi người đeo một chiếc và tiếp tục đi đến quán bi da 07, thôn ĐL I. Đến nơi, N dừng xe lại và nói Nh đứng ngoài canh, còn N cầm dao dài khoảng 40 cm, cán gỗ, lưỡi dao hình chữ nhật chạy vào trong quán. Lúc này, trong quán có Trần Quang Th, Trương Văn C, Nguyễn Công H, Bùi Vũ Th1, Nguyễn Đức Tr, Nguyễn Công M đang chơi bi da. Thấy N cầm dao đi vào, Nguyễn Công M bỏ chạy thì N cầm dao đuổi theo. M chạy vào nhà tắm thuộc khu vực bếp phía sau quán đóng cửa lại để tránh sự truy sát của N. N dùng dao chém bung cửa nhà tắm rồi lao vào chém M. Khi thấy nhiều người trong quán chạy ra nhưng không thấy N đâu thì Nh cầm dao chạy vào quán theo lối cửa hông, do khu vực này bị cúp điện nên Nh nói “Bật điện lên”, nhưng vẫn không thấy điện sáng. Cùng lúc này Nh thấy một người từ dưới chạy lên trong trạng thái loạng choạng và người bị ướt thì Nh gọi N nhưng không thấy N đâu nên chạy ra ngoài; vẫn không thấy N nên Nh chạy vào lại, khi vừa chạy được vài bước thì N ra nên cả hai lên xe bỏ chạy về hướng Đăk Nông. Trên đường đi N đã đưa cho Nh con dao của mình rồi nói Nh tìm chỗ vứt 02 con dao đi nên Nh đã vứt 02 con dao vào bên đường.

Nguyễn Công M bỏ chạy đến quán tạp hóa bên cạnh thì gục xuống do bị vết thương dưới cằm trái; vết thương vùng cổ trái; vết thương từ bên trái tuyến giáp đến sau góc hàm phải 5cm cắt đứt cơ ức đòn chũm phải, đứt ngang rời tĩnh mạch cảnh bên ngoài, đứt nửa chu vi tĩnh mạch cảnh trong bên phải; vết thương vùng cổ phải, dưới. Dù được mọi người đưa đi cấp cứu nhưng anh M đã chết do thương tích quá nặng.

Vật chứng: Đối với hung khí gây án, các đối tượng đã vứt bỏ trên đường chạy trốn, do không xác định được vị trí nên không thu hồi được.

Tại bản kết luận pháp y số 337/2016/KLPY ngày 20/12/2016 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng. Kết luận anh Nguyễn Công M chết do nguyên nhân: Trụy tim mạch cấp do vết thương đứt tĩnh mạch cảnh trong và tĩnh mạch cảnh ngoài phải.

Gia đình bị hại chi phí mai táng Nguyễn Công M hết 177.800.000 đồng và yêu cầu được bồi thường.

Đối với Hà Chí N hiện đang bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã ra Lệnh truy nã và tách vụ án đối với Hà Chí N, khi nào bắt được sẽ xử lý bằng vụ án khác.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2017/HSST ngày 29/9/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Phạm Minh Nh phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 20; Điều 53 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Phạm Minh Nh 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2016.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 42 Bộ luật Hình sự; áp dụng Điều 584; Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015 buộc bị cáo Phạm Minh Nh phải bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 158.800.000 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ của người phải thi hành án, quyền của người được thi hành án, tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 12/10/2017, bị cáo Phạm Minh Nh có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là quá cao so với hành vi vi phạm của bị cáo; sau khi bị bắt, bị cáo đã thành thành khai báo và đã tác động gia đình khắc phục một phần hậu quả cho gia đình người bị hại.

Trước đó, ngày 10/10/2017 ông Nguyễn Công B là người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn kháng cáo yêu cầu tăng mức hình phạt đối với bị cáo Phạm Minh Nh và yêu cầu buộc bị cáo Nh phải tăng mức bồi thường là 320.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Minh Nh và ông Nguyễn Công B là người đại diện hợp pháp của người bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu quan điểm: Mặc dù tại phiên tòa, bị cáo Phạm Minh Nh khai không biết Hà Chí N rủ đi đâu, nhưng qua lời khai của bị cáo Nh tại cơ quan điều tra phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ xác định việc bị cáo Nh đã được Hà Chí N rủ đi đánh anh Nguyễn Công M và bị cáo Nh đã đồng ý tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Phạm Minh Nh 09 (chín) năm tù về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 93 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ, vai trò tham gia thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo Nh. Về trách nhiệm dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét và buộc bị cáo Phạm Minh Nh phải bồi thường cho gia đình người bị hại tổng số tiền 198.800.000 đồng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Minh Nh; đồng thời, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Công B là người đại diện hợp pháp của người bị hại yêu cầu tăng mức hình phạt và tăng mức bồi thường đối với bị cáo Nh; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Phạm Minh Nh thống nhất về việc Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết bị cáo Phạm Minh Nh phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 93 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Tuy nhiên, mức án 09 (chín) năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo Phạm Minh Nh là quá nặng vì, bị cáo Nh chỉ thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức rất hạn chế và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Minh Nh, xử phạt bị cáo Nh mức án theo quy định tại khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Về bồi thường thiệt hại, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét và buộc bị cáo Nh phải tiếp tục bồi thường cho gia đình người bị hại với số tiền 158.800.000 đồng (sau khi trừ đi số tiền 40.000.000 đồng gia đình bị cáo đã bồi thường trước) là phù hợp, đúng quy định pháp luật; do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên quyết định về phần trách nhiệm dân sự của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Minh Nh và đơn kháng cáo của ông Nguyễn Công B là người đại diện hợp pháp của người bị hại gửi trong thời hạn, đúng thủ tục theo quy định của pháp luật nên hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Mặc dù, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Minh Nh khai không biết việc Hà Chí N rủ đi đánh anh Nguyễn Công M. Tuy nhiên, qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm đủ cơ sở để xác định:

[2.1] Do có mâu thuẫn từ trước với anh Nguyễn Công M, nên khoảng 19 giờ 00 ngày 13/12/2016, Hà Chí N rủ Phạm Minh Nh đi đánh anh M để trả thù, Nh đã đồng ý và nhận từ tay N đưa cho 01 dao phát dài khoảng 50cm, cán gỗ, mũi dao cong rồi N điều khiển xe chở Nh đi tìm anh M. Khi đến quán bida 07 thôn ĐL 1, xã LĐ, huyện BL, tỉnh Lâm Đồng, N dừng xe lại và nói Nh đứng ngoài canh, còn N cầm dao dài khoảng 40 cm, cán gỗ, lưỡi dao hình chữ nhật chạy vào trong quán rượt đuổi và chém nhiều nhát vào anh M.

[2.2] Khi thấy nhiều người trong quán chạy ra nhưng không thấy N đâu thì Nh cầm dao chạy vào quán theo lối cửa hông, Nh thấy một người từ dưới chạy lên trong trạng thái loạng choạng và người bị ướt thì Nh gọi N nhưng không thấy N đâu nên chạy ra ngoài; vẫn không thấy N nên Nh chạy vào lại, khi vừa chạy được vài bước thì N ra nên cả hai lên xe bỏ chạy về hướng Đăk Nông. Trên đường đi N đã đưa cho Nh con dao của mình rồi nói Nh tìm chỗ vứt 02 con dao đi nên Nh đã vứt 02 con dao vào bên đường.

[2.3] Bị chém, anh M bỏ chạy đến quán tạp hóa bên cạnh thì gục xuống, được mọi người đưa đi cấp cứu nhưng anh M đã chết do thương tích quá nặng.

[2.4] Sau khi gây án, bị cáo Nh ra đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi như trên, còn Hà Chí N đã bỏ trốn.

[3] Chính vì vậy xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết bị cáo Phạm Minh Nh phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, giữa bị cáo và người bị hại không có mâu thuẫn, không quen biết, nhưng khi Hà Chí N rủ đi đánh nhau thì đã đồng ý ngay là đồng phạm với N với vai trò là người giúp sức xâm hại đến tính mạng của người khác, gây đau thương mất mát không gì có thể bù đắp được cho gia đình và người thân người bị hại, gây hoang mang lo lắng, bất bình trong cộng đồng dân cư, ảnh hưởng đến trật tự, an ninh tại địa phương. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Nh 09 (chín) năm tù là tương xứng, đảm bảo cải tạo, giáo dục riêng, răn đe, phòng ngừa chung.

[4.1] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đã xem xét đến nhân thân, hoàn cảnh phạm tội của bị cáo Phạm Minh Nh, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nh. Bị cáo Phạm Minh Nh kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và người đại diện hợp pháp của người bị hại kháng cáo yêu cầu tăng mức hình phạt đối với bị cáo Nh, nhưng đều không đưa ra được tình tiết nào mới, nêu không có căn cứ để chấp nhận.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

[5.1] Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của gia đình bị hại đã yêu cầu được bồi thường các khoản: Chi phí mai táng là 132.800.000 đồng (theo bản kê – BL 68), tiền đặt 40 mâm cơm là 64.000.000đ và tiền bồi thường tổn thất tinh thần với mức cao nhất là 100 tháng lương = 130.000.000 đồng. Xét việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận khoản tiền 64.000.000đ chi cho việc đặt 40 mâm cơm, chấp nhận số tiền mai táng là 68.000.000 đồng và chấp nhận yêu cầu bồi thường tiền tổn thất tinh thần với mức cao nhất là 100 tháng lương = 130.000.000. Như vậy, tổng số tiền bồi thường được chấp nhận là 198.800.000 đồng; trong khi đó, gia đình bị cáo Phạm Minh Nh đã bồi thường được 40.000.000 đông; nên số tiền phải bồi thường còn lại là 158.800.000 đông. Do Hà Chí N đã bỏ trốn, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc bị cáo Nh phải bồi thường toàn bộ, khi nào bắt được Hà Chí N thì sẽ buộc Hà Chí N cùng chịu trách nhiệm khoản tiền này, là phù hợp, đảm bảo quyền lợi cho gia đình người bị hại, có căn cứ theo quy định pháp luật.

[5.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của người bị hại kháng cáo yêu cầu được tăng mức bồi thường thiệt hại lên 320.000.000 đồng, nhưng không có căn cứ để chấp nhận.

[6] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất với quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Minh Nh, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Công B là người đại diện hợp pháp của người bị hại yêu cầu tăng mức hình phạt và tăng mức bồi thường đối với bị cáo Nh; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[7] Những ý kiến quan điểm của Luật sư bào chữa xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phạm Minh Nh tại phiên tòa phúc thẩm không phù hợp với phân tích, nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử phúc thẩm nên không được chấp nhận.

[8] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Phạm Minh Nh phải chịu theo quy định của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[9] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Minh Nh; không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Công B là người đại diện hợp pháp của người bị hại yêu cầu tăng mức hình phạt và tăng mức bồi thường đối với bị cáo Phạm Minh Nh; giữ nguyên bản án sơ thẩm:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Minh Nh phạm tội “Giết người”. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 20; Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Xử phạt Phạm Minh Nh 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2016.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 42 Bộ luật hình sự; áp dụng Điều 584; Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015; Buộc bị cáo Phạm Minh Nh phải bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 158.800.000đ (một trăm năm mươi tám triệu tám trăm ngàn đồng).

Căn cứ khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015, kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, gia đình bị hại có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo chưa bồi thường xong số tiền phải bồi thường thì còn phải chịu thêm tiền lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm thi hành.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phạm Minh Nh phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng). Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số: 43/2017/HSST ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án là ngày 22 tháng 6 năm 2018.


108
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 332/2018/HS-PT ngày 22/06/2018 về tội giết người

Số hiệu:332/2018/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:22/06/2018
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về