Bản án 33/2020/HSST ngày 12/05/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 33/2020/HSST NGÀY 12/05/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 12 tháng 5 năm 2020 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 26/2020/HSST ngày 21 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2020/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Phan Hữu P; giới tính: Nam, sinh năm 1996 tại Tp. Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú : 361/9/52 ấp 06, xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Con ông Phan Hữu Hạnh (sinh năm 1970) và bà Nguyễn Thị Phượng (sinh năm 1970); Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; Tiền án : 01 : Ngày 20/02/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xử phạt 02 năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành án tại trại giam Phú Hòa, tỉnh Bình Dương đến ngày 12/7/2018 chấp hành xong án phạt tù; Tiền sự: không. Bị cáo bị bắt và tạm giam ngày 16/11/2019 (Có mặt).

Bị hại :

- Ông Lê Viết H, sinh năm 1989; Trú tại: 1446C Lê Đức Thọ, Phường 13, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh (vắng mặt) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Võ Văn T, sinh năm 1975; Trú tại: 92 Phạm Phú Thứ, Phường 03, Quận 06, Tp. Hồ Chí Minh (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 15h40 ngày 16/11/2019, Phan Hữu P đang ở nhà thì nhận được điện thoại của T (chưa rõ lai lịch) rủ P cùng đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì P đồng ý. Sau đó, P đón xe ôm đi đến Bến xe buýt Hiệp Thành, Quận 12 để gặp T. Tại đây, T điều khiển xe máy hiệu Sirius (không rõ biển số) chở P dạo quanh nhiều tuyến đường tìm tài sản sơ hở để lấy trộm. Đến 16h45 phút cùng ngày khi chạy xe ngang qua trước nhà 1446C Lê Đức Thọ, Phường 13, quận Gò Vấp thì T nhìn thấy chiếc xe máy hiệu Honda Air blade biển số 59K1-824.66 của anh Lê Viết H, sinh năm 1989, ngụ: 1446C Lê Đức Thọ, Phường 13, quận Gò Vấp dựng trước cửa nhà, chìa khóa còn cắm trên ổ khóa xe nên T kêu P đến lấy trộm thì P đồng ý. T dừng xe cách căn nhà trên khoảng 5 m để cảnh giới còn P đi bộ đến lén lút dắt xe xuống đường và nổ máy xe chạy được khoảng 5 m thì anh H phát hiện tri hô đuổi theo cùng người dân bắt giữ P và vật chứng giao cho Công an Phường 13 lập biên bản phạm tội quả tang. Riêng T điều khiển xe máy hiệu Sirius chạy thoát.

Tại Cơ quan điều tra, Phan Hữu P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đối với người thanh niên tên T (không rõ lai lịch) P khai quen biết ngoài xã hội, hiện Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Vật chứng vụ án:

- 01 xe gắn máy hiệu Air blade biển số 59K1-824.66, số máy: JF46E5521429, số khung: 4614EY821413. Tại Kết luận định giá tài sản số 31/KL ngày 11 tháng 02 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - UBND quận Gò Vấp kết luận: giá trị 01 xe Honda Air Blade, biển số 59K1-824.66, số khung 4614EY821413, số máy JF46E5521429, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 16/11/2019 là 24.667.000 đồng.

Qua xác minh chiếc xe máy Air blade biển số 59K1-824.66 do anh Võ Văn T, sinh năm 1975, HKTT: 92 Phạm Phú Thứ, Phường 3, Quận 6, TP. Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Chiếc xe này anh T mua vào năm 2015 sử dụng đến năm 2018 thì bán lại cho anh Lê Viết H, sinh năm 1989, HKTT: Thôn 4, xã Thiệu Khánh, TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, cư trú: 1446C Lê Đức Thọ, Phường 13, quận Gò Vấp nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho anh Lê Viết H.

-01 dao gấp bằng kim loại dài 19cm, 01 khóa lục giác chữ L, 01 khóa vặn ốc cỡ 8 ly, 04 đầu đoản bằng kim loại, 01 bình xịt:

- 01 điện thoại di động hiệu Mobistar imei: 352221025455854.

Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 44 ngày 10/02/2020 và pH nhập kho vật chứng số 26/PNK ngày 10/02/2020.

Tại bản cáo trạng số 38/Ctr-VKS, ngày 19/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Phan Hữu P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phan Hữu P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp sau khi phân tích nội dung vụ án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khỏan 1 Điều 173, điểm s khỏan 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Phan Hữu P mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

- Tịch thu tiêu hủy 01 dao gấp bằng kim loại dài 19cm, 01 khóa lục giác chữ L, 01 khóa vặn ốc cỡ 8 ly, 04 đầu đoản bằng kim loại, 01 bình xịt.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Mobistar imei: 352221025455854.

Qua ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát bị cáo nhất trí và không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai của người làm chứng, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị 24.667.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Phan Hữu P đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung như Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người bị hại, bị cáo cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại, điều đó cho thấy bị cáo rất xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng tác động xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo chỉ vì muốn có tiền tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính nên đã thực hiện hành vi phạm tội.

Bị cáo đã từ bị xử phạt về hành vi “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” tuy chưa xóa án, bị cáo lại tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự nên cần thiết phải xử lý nghiêm, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo đồng thời cũng nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[4] Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với người thanh niên tên T (không rõ lai lịch). Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

[6] Về trách nhiệm dân sự : Tại phiên tòa, bị hại anh Lê Viết H vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

- 01 xe gắn máy hiệu Air blade biển số 59K1-824.66, số máy: JF46E5521429, số khung: 4614EY821413. Cơ quan điều tra đã trả lại cho người bị hại. Xét, việc trả lại tài sản trên là hợp lệ nên không đưa ra xem xét giải quyết lại.

- 01 dao gấp bằng kim loại dài 19cm, 01 khóa lục giác chữ L, 01 khóa vặn ốc cỡ 8 ly, 04 đầu đoản bằng kim loại, 01 bình xịt là những công cụ để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu Mobistar imei: 352221025455854. Bị cáo đã dung chiếc điện thoại này để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phan Hữu P phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Phan Hữu P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 16/11/2019 Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và khỏan 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 dao gấp bằng kim loại dài 19cm, 01 khóa lục giác chữ L, 01 khóa vặn ốc cỡ 8 ly, 04 đầu đoản bằng kim loại, 01 bình xịt.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Mobistar imei: 352221025455854.

(Theo PH nhập kho vật chứng số 26/PNK ngày 10/02/2020 của Công an quận Gò Vấp) Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 33/2020/HSST ngày 12/05/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:33/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:12/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về