Bản án 33/2019/DS-ST ngày 22/03/2019 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 33/2019/DS-ST NGÀY 22/03/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI

Ngày 22 tháng 03 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 06/2019/TLST-DS ngày 04/01/2019 về tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2019/QĐST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà TRẦN THỊ C, Sinh năm: 1958

Địa chỉ: ấp HP2, xã HMB A, huyện CB, tỉnh TG.

* Bị đơn: Bà LÊ THỊ T, Sinh năm 1976

Địa chỉ: ấp HP2, xã HMB A, huyện CB, tỉnh TG.

(Bà C có mặt phiên tòa, bà T có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và các ý kiến trình bày tại Tòa án nhân dân huyện Cái Bè phía nguyên đơn bà Trần Thị C trình bày:

Nguyên là chỗ quen biết lối xóm nên phía bà Lê Thị T có tham gia chơi nhiều dây hụi do bà làm chủ thảo cụ thể như sau:

- Dây hụi mùa 5.000.000 đồng, khui đầu vụ 2 năm 2014, có 14 phần, 03 tháng khui hụi một lần, mỗi năm khui 03 lần, bà T tham gia 01 phần trong dây hụi này, đã hốt xong, dây hụi này đã mãn, trong dây hụi này bà T còn nợ bà 03 kỳ hụi chết chưa đóng với số tiền là 15.000.000 đồng.

- Dây hụi mùa 5.000.000 đồng, khui đầu vụ 2 năm 2014, có 13 phần, 03 tháng khui hụi một lần, mỗi năm khui 03 lần, bà T tham gia 01 phần trong dây hụi này, đã hốt xong, dây hụi này đã mãn, trong dây hụi này bà T còn nợ bà 02 kỳ hụi chết chưa đóng với số tiền là 10.000.000 đồng.

- Dây hụi mùa 5.000.000 đồng, khui đầu vụ 3 năm 2014, có 15 phần, 03 tháng khui hụi một lần, mỗi năm khui 03 lần, bà T tham gia 01 phần trong dây hụi này, đã hốt xong, dây hụi này đã mãn, trong dây hụi này bà T còn nợ bà 05 kỳ hụi chết chưa đóng với số tiền là 25.000.000 đồng.

- Dây hụi mùa 5.000.000 đồng, khui đầu vụ 1 năm 2015, có 15 phần, mỗi năm khui 04 lần, bà T tham gia 01 phần trong dây hụi này, đã hốt xong, dây hụi này đã mãn, trong dây hụi này bà T còn nợ bà 03 kỳ hụi chết chưa đóng với số tiền là 15.000.000 đồng.

- Dây hụi mùa 5.000.000 đồng, khui đầu vụ 2 năm 2015, có 15 phần, mỗi năm khui 04 lần, bà T tham gia 01 phần trong dây hụi này, đã hốt xong, dây hụi này đã mãn, trong dây hụi này bà T còn nợ bà 04 kỳ hụi chết chưa đóng với số tiền là 20.000.000 đồng.

- Dây hụi mùa 5.000.000 đồng, khui đầu vụ 1 năm 2015, có 16 phần, 03 tháng khui hụi một lần, mỗi năm khui 03 lần, bà T tham gia 01 phần trong dây hụi này, đã hốt xong, dây hụi này đã mãn, trong dây hụi này bà T còn nợ bà 07 kỳ hụi chết chưa đóng với số tiền là 35.000.000 đồng.

- Dây hụi mùa 5.000.000 đồng, khui đầu vụ 2 năm 2015, có 15 phần, 03 tháng khui hụi một lần, mỗi năm khui 03 lần, bà T tham gia 01 phần trong dây hụi này, đã hốt xong, dây hụi này đã mãn, trong dây hụi này bà T còn nợ bà 7 kỳ hụi chết chưa đóng với số tiền là 35.000.000 đồng.

Tổng cộng sau khi kết sổ hụi thì bà T thiếu bà số tiền nợ hụi là 155.000.000 đồng, bà khấu trừ cho bà T 50.000.000 đồng (đối với các giao dịch tiền bạc trước đây các bên xác lập) thì bà T còn nợ bà 105.000.000 đồng tiền hụi. Nay bà yêu cầu bà T trả số tiền nợ hụi 105.000.000 đồng làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

* Tại tờ tự khai ngày 07/3/2019 phía bị đơn bà Lê Thị T trình bày:

Bà có tham gia chơi nhiều dây hụi do bà Trần Thị C làm chủ thảo hụi, các dây hụi tham gia đã hốt hết, tính đến thời điểm các dây hụi đã mãn thì bà còn thiếu nợ tiền hụi chết của bà C là 105.000. 000 đồng, ngoài ra không còn thiếu tiền gì của bà C. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của bà C bà cũng đồng ý thống nhất số nợ theo yêu cầu của bà C nhung hiện nay do hoàn cảnh khó khăn nên bà xin trả dần, không có khả năng trả một lần.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Bà Lê Thị T có đơn xin giải quyết và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bà, căn cứ khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà T là phù hợp theo quy định của pháp luật.

- Tranh chấp giữa bà Trần Thị C và bà Lê Thị T là tranh chấp “hợp đồng góp hụi” theo quy định tại điều 471 của Bộ luật dân sự.

[2] Về nội dung vụ kiện:

Bà Trần Thị C và bà Lê Thị T đều thống nhất xác định bà T có tham gia chơi 07 dây hụi mùa do bà C làm đầu thảo hụi, phía bà T đã hốt toàn bộ 07 dây hụi này, các dây hụi đều đã mãn hụi, sau khi hai bên quyết toán thì phía bà T còn nợ lại số tiền hụi là 105.000.000 đồng. Tại phiên tòa, phía bà T yêu cầu bà C hoàn trả lại phần tiền hụi chết còn nợ là 105.000.000 đồng làm một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật, còn phía bà T có đơn xin giải quyết vắng mặt tuy nhiên bà có văn bản ý kiến tại tờ tự khai ngày 07/3/2019, bà cũng thống nhất đồng ý trả cho bà C số tiền 105.000. 000 đồng nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên bà xin trả dần cho đến khi xong nợ, không có khả năng trả một lần.

Hội đồng xét xử xét thấy bà T thừa nhận có nợ phía bà C số tiền hụi là 105.000.000 đồng, các dây hụi này đã mãn hụi nhưng phía bà T không thanh toán tiền hụi chết cho bà C là vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Phía bà T có ý kiến xin trả dần số tiền nợ hụi cho đến khi xong nợ, xét thấy yêu cầu xin trả dần của bà T là nhằm kéo dài thời gian trả nợ gây thiệt thòi quyền lợi cho phía bà C và không được bà C đồng ý nên không chấp nhận yêu cầu xin trả dần của phía bà T. Xét yêu cầu khởi kiện của bà C là có căn cứ phù hợp theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí: Bà T có trách nhiệm trả nợ cho bà C số tiền nợ hụi là 105.000.000 đồng nên bà phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điều 26, 35, 266, 267, 271 và khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các điều 471, 357 và 468 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị C.

Buộc bà Lê Thị T có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị C số tiền nợ hụi là 105.000.000 đồng (Một trăm lẻ năm triệu đồng).

Kể từ ngày bà C có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà T chậm thi hành đối với phần tiền nợ nêu trên thì còn phải chịu thêm tiền lãi suất theo mức lãi suất quy định tại điều 357, khoản 2 điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

* Về án phí:

+ Bà Lê Thị T phải chịu 5.250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

+ Hoàn lại cho bà Trần Thị C số tiền 2.625.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 09708 ngày 04/01/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè.

* Về quyền kháng cáo: Bà C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ khi nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 33/2019/DS-ST ngày 22/03/2019 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

Số hiệu:33/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cái Bè - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:22/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về