Bản án 33/2018/HNGĐ-ST ngày 28/06/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 33/2018/HNGĐ-ST NGÀY 28/06/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 28 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 280/2018/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án raxét xử số: 41/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1976 (Có mặt);

Trú tại: Thôn Đẩu Hàn, xã H, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1971(Vắng mặt);

Trú tại: khu 3, phường Đ, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị M trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn H vào ngày 05/02/2004. Trước khi kết hôn hai bên có được tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết tại UBND xã H, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn chị về sống chung cùng gia đình anh H tại khu 3, phường Đ, thành phố Bắc Ninh. Cuộc sống vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chị phát hiện ra mình không có khả năng sinh con. Năm 2006, vợ chồng sống ly thân, chị bỏ về sống cùng gia đình chị tại thôn Đẩu Hàn, xã H, thành phố Bắc Ninh cònanh H vẫn sống tại nhà anh H. Vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, khôngai quan tâm đến ai. Nay thấy vợ chồng sống ly thân đã lâu không còn tình cảm,chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Không có.

Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về công nợ: Vợ chồng chị không nợ ai và cũng không có ai nợ hai vợ chồng,do vậy chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Phía bị đơn là anh Nguyễn Văn H vắng mặt tại phiên tòa, không tham gia tố tụng cũng như các hoạt động của Tòa án.

Lời khai của bà Nguyễn Thị T (là mẹ đẻ anh H) cho biết vợ chồng chị M anh H sống ly thân đã lâu và hai người hiện không còn tình cảm, việc anh H không hợp tác với Tòa án là có lý do riêng. Nay chị M có đơn xin ly hôn anh H, bà đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết.

Lời khai của anh Nguyễn Nhược P là em trai của anh H xác định chị M là vợ của anh H là anh trai của anh. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chị M chỉ sống chung với nhau được 02 năm thì chị M về nhà chị M và không sống cùng anh H từ năm 2016 đến nay. Nay chị M có đơn đề nghị giải quyết ly hôn. Quan điểm của anh là Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án là đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Riêng có bị đơn là anh Nguyễn Văn H không cung cấp lời khai và vắng mặt trong các buổi hòa giải cũng như xét xử của Tòa án, chưa nghiêm túc chấp hành các quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị M ly hôn anh Nguyễn Văn H.

- Về con chung: Không có.

- Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

- Về án phí: Chị M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M kết hôn với anh Nguyễn Văn H ngày 05/02/2004. Trước khi kết hôn chị M và anh H đã tự nguyện tìm hiểu và tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, do phát hiện ra mình không có khả năng sinh con nên chị M đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ năm 2006 đến nay, vợ chồng không ai quan tâm đến ai. Vợ chồng sống ly thân đã 12 năm. Tòa án đã triệu tập để các bên đương sự có điều kiện hòa giải nhưng anh H vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị M và anh H đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa hôm nay chị M giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn anh H. Do vậy cần xử cho chị M được ly hôn anh H.

[2] Về con chung: Không có nên không đề cập giải quyết.

[3] Về tài sản, công nợ: Chị M xác định vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai và không có ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết do vậy không đặt ra xem xét.

[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 147, 228, 235, 264, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2006 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội; Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M ly hôn anh Nguyễn Văn H.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản, công nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí dân sự: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. (Xác nhận chị Nguyễn Thị M đã nộp 300.000đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai số AA/2017/0000761 ngày 05/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh).

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết hoặc nhận được kết quả bản án.


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 33/2018/HNGĐ-ST ngày 28/06/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:33/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Ninh - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 28/06/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về