Bản án 33/2018/HNGĐ-ST ngày 07/02/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 33/2018/HNGĐ-ST NGÀY 07/02/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày  07 tháng  02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 341/2017/TLST-HNGĐ ngày 09/11/2017, về việc: "Tranh chấp về Hôn nhân gia đình- Xin ly hôn"theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 407/2017/QĐXX-ST ngày 18 tháng 12 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa 16/2018/QĐHPT- HNGĐ ngày  10/1/2018  giữa  các đương sự:

Nguyên đơn:  Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1979 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp Tân Vọng, xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Bị đơn : Chị Nguyễn Thị Ánh H, sinh năm 1978.(Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Tân Vọng, xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai  và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn  Văn C trình bày:

Anh  Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị Ánh H sống chung vào năm 1996 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vọng Thê vào ngày 18/5/2009. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và đã có 02 con chung. Nhưng sau đó vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, có nhiều bất đồng về quan điểm sống tính tình không còn phù hợp, do chị H có người đàn ông khác bên ngoài, anh chị đã không còn sống chung từ  năm 2013. Nay, tình cảm vợ chồng khôngcòn, không thể hàn gắn và kéo dài. Nên, anh C yêu cầu được ly hôn với chị H.

Về quan hệ con chung: Có 04 con chung tên Nguyễn Thị Ý N, sinh năm1996, Nguyễn Thị Như T, sinh ngày 26/05/2000, Nguyễn Thị Diễm M, sinh ngày 12/5/2006, Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 2012  hiện 02 con nhỏ đang sống với mẹ, còn lại 02 con đã trưởng thành. Sau khi ly hôn anh C đồng ý để cho chị H tiếp tục nuôi 02 con và anh C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

Chị Nguyễn Thị Ánh H trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo hòa giải và đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để làm việc nhưng chị Nguyễn Thị Ánh H vẫn vắng mặt không lý do nên không ghi được ý kiến C chị Nguyễn Thị Ánh H và không tiến hành hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về hình thức:  Anh  Nguyễn Văn C có đơn xin ly hôn chị Nguyễn Thị Ánh H  có địa chỉ cư trú tại ấp Tân Vọng, xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 C Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Nguyễn Thị Ánh H đã được Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử , quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ để dự phiên Tòa, nhưng chị H vẫn vắng mặt, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn chị H.

[2] Về nội dung: Nhận thấy anh  Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị Ánh H sống chung với nhau năm 1996 có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn năm 2015 theo quy định C pháp luật  nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc thời gian đầu. Thời gian gần đây, đã xảy ra mâu thuẫn, cả hai thường xuyên cự cãi và không còn sống chung từ  năm 2013 đến nay. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, đã tạo điều kiện cho các bên hàn gắn nhưng chị H đều không đến, điều này thể hiện tình trạng hôn nhân anh C và chị H mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn C Anh

 Nguyễn Văn C .Về con chung: Xét thấy anh chị sống chung với nhau có 04 con chung tên Nguyễn Thị Ý N, sinh năm 1996, Nguyễn Thị Như T,sinh năm 2000, Nguyễn Thị Diễm M, sinh ngày 12/5/2006, Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 06/4/ 2012 hiện 02 con nhỏ đang sống với mẹ, còn lại 02 con đã trưởng thành. Sau khi ly hôn anh C đồng ý để cho chị H tiếp tục nuôi con và anh C không phải cấp dưỡng nuôi con. Trong quá trình giải quyết vụ án tống đạt thông báo thụ lý và đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để làm việc nhưng chị Nguyễn Thị Ánh H vẫn vắng mặt không lý do nên không ghi được ý kiến C chị Nguyễn Thị Ánh H và không tiến hành hòa giải được, do các con sống chung với chị H, chị H không đến nên cũng không ghi nhận được nguyện vọng C các con muốn sống với ai. Tuy nhiên hiện nay các cháu  đang với sống chung với mẹ và anh C cũng đồng ý để chị H tiếp tục nuôi con, do đó để tạo cho các cháu ổn định về tâm lý và sinh hoạt hàng ngày nên chấp nhận cho chị H được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung : Anh C không đồng ý cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn, do chị H không đến nên không ghi nhận được ý kiến C chị H, nhưng khi cần thiết chị H có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Ghi nhận anh C xác định không có nợ chung nhưng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung C anh chị trong thời kỳ sống chung thì  anh C và chị H vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
[3]Về án phí sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định C pháp  luật.Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110  Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 C Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 C Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn C anh Nguyễn Văn C.

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn C được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ánh H.

- Về quan hệ con chung: Chị   Nguyễn Thị Ánh H được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Thị Diễm M, sinh ngày 12/5/2006, Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 06/4/ 2012 (hiện 02 con đang sống với mẹ). Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh C không trực tiếp nuôi con chung nhưng anh có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh C thực hiện quyền này.

Vì lợi ích C con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Ghi nhận anh C xác định không có nợ chung nhưng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung C anh chị trong thời kỳ sống chung thì  anh C và chị H vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí: Anh Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000652 ngày 24/10/2017 C Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9\ Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


39
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 33/2018/HNGĐ-ST ngày 07/02/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:33/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thoại Sơn - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 07/02/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về