Bản án 331/2018/HSST ngày 17/09/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 331/2018/ HSST NGÀY 17/09/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 17 tháng 9 năm 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 282/2018/HSST ngày 05 tháng 7 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 296/2018/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 8 năm 2018, đối với bị cáo:

Lê Công Q, sinh ngày 23/01/1981

HKTT: xóm G, xã H, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo : Không; Trình độ văn hóa : 12/12; Nghề nghiệp: không. Con ông: Lê Công B, đã chết, con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1948, gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình, có vợ: Trần Thị Thu M, sinh năm 1980; có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2014; Tiên an , tiên sư: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2018 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Trần Thị Thu M, có mặt.

HKTT: Xóm G, xã H, Thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên.

*Người chứng kiến:

Ông Trần Văn N, sinh năm 1960, có mặt.

HKTT: Tổ K, phường X, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 05/6/2018, tổ công tác Công an phường Phú Xá, thành phố Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ J của phường phát hiện 01 nam thanh niên điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream, BKS 20F6 - B có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra, đối tượng tự giác chấp hành và khai nhận họ tên là Lê Công Q, sinh năm 1981, trú tại: xóm G, xã H, thành phố TH. Quá trình kiểm tra trên người Q phát hiện thu giữ tại túi quần phía trước bên phải Q đang mặc có 01 gói giấy bạc màu trắng, Q khai đó là Heroine. Tại túi quần bên trái 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu cam. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Q và niêm phong vật chứng theo quy định.

Cùng ngày cân xác định trọng lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Q có trọng lượng 0,322 gam.

Tại bản Kết luận giám định số 749/KL-PC54 ngày 12/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Lê Công Q là ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,322 gam.

Tại cơ quan điều tra, Lê Công Q khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 05/6/2018, Q đi xe máy một mình từ trung tâm thành phố TH xuống khu vực tổ J, phường X, thành phố TH để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 18 giờ, Q đi vào ngõ đường dân sinh thuộc tổ J, phường X gặp một nam thanh niên tên Th, Q không rõ lai lịch địa chỉ và mua 01 gói Heroine với giá 350.000 đồng. Mua xong, Q cất gói ma túy vào túi quần bò phía trước bên phải đang mặc rồi đi tìm chỗ sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường Phú Xá phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 268/CT-VKSTPTN ngày 04/7/2018, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Lê Công Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Công Q khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và như bản cáo trạng đã mô tả.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên trình bày lời luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Công Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt Lê Công Q từ 18 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: xử lý theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (01 bì niêm phong ký hiệu Q1 cần tịch thu tiêu hủy; trả cho chị Trần Thị Thu M, trú tại: xóm G, xã H, thành phố TH 01 xe mô tô kiểu xe Dream, màu sơn nâu, BKS 20F1 – B. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu cam, số IMEL: 357134/06/263173/0, trong máy có gắn 01 sim điện thoại Viettel).

- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cở sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra việc giải quyết.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, lời khai của người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi 18 giờ 00 phút ngày 05/6/2018, tại khu vực tổ J, phường X, thành phố TH, Lê Công Q đang có hành vi tàng trữ 0,322 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường Phú Xá, thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Do đó, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Lê Công Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy... thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

c) Heroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, ma túy còn là hiểm họa cho xã hội, phát sinh các tệ nạn xã hội, làm khánh kiệt về kinh tế, suy kiệt giống nòi, do đó Đảng và Nhà nước ta đã kiên quyết bài trừ tệ nạn này ra khỏi xã hội, bị cáo nhận thức rõ về điều đó nhưng vẫn phạm tội, làm gia tăng tệ nạn ma túy ở địa phương. Hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự để giáo dục riêng và ngăn ngừa tội phạm chung.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 BLHS.

Bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo. 

Vật chứng vụ án: 01 bì niêm phong ký hiệu Q1 cần tịch thu tiêu hủy; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu cam, trong máy có gắn 01 sim điện thoại Viettel là của bị cáo, xét cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo. Đối với 01 xe mô tô kiểu xe Dream, màu sơn nâu, BKS 20F1 – B, số máy: FM*YK, số khung: FLP là phương tiện bị cáo dùng vào việc đi mua ma túy trong quá trình điều tra bị cáo khai là tài sản của bị cáo, tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo và chị M xác định đây là tài sản của hai vợ chồng, chiếc xe này là phương tiện đi lại phục vụ sinh hoạt và là phương tiện đưa đón con cái đi học hàng ngày của gia đình, do đó xét nên trả lại cho chị M quản lý, sử dụng là chính đáng và phù hợp pháp luật

Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Mức án vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.

Về nguồn gốc số Heroine, Q khai mua của một nam thanh niên tên Th không rõ lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt: Lê Công Q 18 (mười tám) tháng tù giam về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2018.

Căn cứ vào Điều 329 BLTTHS Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.

2. Vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu Q1

- Trả lại cho chị Trần Thị Thu M, trú tại: xóm G, xã H, thành phố TH): 01 xe mô tô kiểu xe Dream, màu sơn nâu, BKS 20F1 – B, số máy: FM*YK, số khung: FLP.

- Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu cam, số IMEL: 357134/06/263173/0, trong máy có gắn 01 sim điện thoại Viettel.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 289 ngày 19/6/2018 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).

3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


77
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 331/2018/HSST ngày 17/09/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:331/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:17/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về