Bản án 325/2018/HNGĐ-ST ngày 07/12/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 325/2018/HNGĐ-ST NGÀY 07/12/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON CHUNG

Ngày 07 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 761/2018/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2018 về tranh chấp: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 548/2018/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 11 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lâm Thị T, sinh năm 1980.

- Bị đơn: Anh Trần Phan V, sinh năm 1979.

Trú tại: Khóm 4, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau

(Nguyên đơn, bị đơn từ chối tham gia tố tụng)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn chị Lâm Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Trần Phan V chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Quá trình chung sống, thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng thời gian gần đây thường bất đồng quan điểm, dẫn đến cãi nhau. Nay, chị nhận thấy cuộc sống của vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn lại được và hiện chị và anh anh V đã ly thân trên 01 năm nay, yêu cầu được ly hôn với anh V.

Về con chung: Có 02 người con chung tên Trần Nhật T, sinh ngày 19/11/1998, Trần Thị Hồng N, sinh ngày 24/02/2006. Hiện cháu N do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu N. Còn cháu T đã trưởng thành, nên không yêu cầu giải quyết. Không yêu cầu anh V cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ: Chị xác định không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay, chị yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đối với bị đơn anh Trần Phan V: Có đơn xin xét xử vắng mặt, từ chối tham gia tố tụng và anh V đồng ý ly hôn với chị T. Về con chung, cháu N có ước nguyện sống chung với ai thì người đó có trách nhiệm nuôi, còn cháu T đã trưởng thành, nên không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung và nợ thì thống nhất với lời trình bày của chị T, không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án ghi nhận ý kiến của cháu N có nguyện vọng được sống chung với chị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trần Phan V có nơi trú tại khóm 4, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; về quan hệ pháp luật là: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Chị T và anh V đều có đơn từ chối tham gia tố tụng và xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn theo quy định.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số: 41, quyển số 01, ngày 08/7/2011 của Uỷ ban nhân dân thị trấn S, huyện T nên quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp pháp, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chị T và anh V có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn và yêu cầu này của anh, chị đã được Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời thụ lý giải quyết theo đúng quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và pháp luật về tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý giải quyết vụ án, thì phía chị T và anh V đều có đơn từ chối tham gia tố tụng và đều yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án không thể tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại Tòa án theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tòa án căn cứ Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 không tiến hành hòa giải được. Sau đó, Tòa án căn cứ Điều 203, Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành đưa vụ án ra xét xử. Xét, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh V đã mâu thuẫn trầm trọng, bằng chứng là anh chị đều có đơn từ chối tham gia tố tụng và thật sự anh chị cũng không có thiện chí hàn gắn gia đình, từ đó cho thấy mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị T được ly hôn với anh V là phù hợp.

[3] Về con chung: Chị T và anh V có 02 người con chung tên Trần Nhật T, sinh ngày 19/11/1998, Trần Thị Hồng N, sinh ngày 24/02/2006. Hiện cháu Nhung do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu N.

Không yêu cầu anh V cấp dưỡng. Đối với anh V, xác định nếu cháu N có ước nguyện sống chung với ai thì người đó có trách nhiệm nuôi dưỡng. Không đặt ra việc cấp dưỡng. Còn cháu T đã trưởng thành nên chị T và anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét, con chung tên Trần Thị Hồng N hiện đang ở chung với chị T và có nguyện vọng được ở với mẹ. Khi ly hôn chị T xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu N. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tiếp tục giao cháu N cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành để tạo điều kiện ổn định về mọi mặt cho cháu N. Không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con chung. Anh V không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản. Đối với cháu T đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn xác định không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 235; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng: Điều 19; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 và Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị T về việc yêu cầu được ly hôn với anh Trần Phan V.

Về hôn nhân: Chị Lâm Thị T được ly hôn với anh Trần Phan V.

Về con chung: Tiếp tục giao cháu Trần Thị Hồng N, sinh ngày 24/02/2006 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con chung. Anh V không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản. Đối với cháu Trần Nhật T, sinh ngày 19/11/1998, đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung và nợ: Nguyên đơn và bị đơn xác định không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị Lâm Thị T đã dự nộp trước 300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008883 ngày 02/11/2018 được chuyển thu án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


33
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 325/2018/HNGĐ-ST ngày 07/12/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

Số hiệu:325/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:07/12/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về