Bản án 32/2019/DS-ST ngày 08/08/2019 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản, hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 32/2019/DS-ST NGÀY 08/08/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VAY TÀI SẢN, HỤI

Ngày 08 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 267/2019/TLST-DS ngày 14 tháng 6 năm 2019 về việc “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2019/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Phương T, sinh năm 1958.

Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã AP, huyện TB, tỉnh ĐT.

- Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1961.

2. Bà Đỗ Thị BH, sinh năm 1960.

Hiện nay bà Đỗ Thị BH bệnh tâm thần theo Kết luận giám định pháp y tâm thần số 207/2018/KLGĐTC ngày 25/10/2018 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ.

Người đại diện hợp pháp của bà Đỗ Thị BH: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1961 (Chồng bà BH).

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp N, xã AP, huyện TB, tỉnh ĐT.

Bà Nguyễn Thị Phương T, ông Nguyễn Văn B có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương T trình bày:

Bà Nguyễn Thị Phương T có tham gia 05 dây hụi do bà BH làm chủ. Đến tháng 01/2018 bà BH tuyên bố vỡ hụi, sau khi đối chiếu bà BH còn nợ bà T số tiền 80.500.000 đồng. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2019/HS-ST ngày 21/5/2019, xác định bà BH chiếm đoạt của bà T số tiền 15.400.000 đồng, còn lại số tiền là 65.400.000 đồng là tiền nợ dân sự.

Ngoài ra, trong quá trình tham gia hụi, bà BH đã mua hụi của bà T số tiền 32.400.000 đồng, vay của bà T số tiền 34.000.000 đồng.

Như vậy, bà BH và ông B nợ tổng cộng là 131.500.000 đồng (Một trăm ba mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng).

Nay bà Nguyễn Thị Phương T yêu cầu ông Nguyễn Văn B và bà Đỗ Thị BH liên đới trả cho bà T số tiền nợ hụi là 65.100.000 đồng, tiền mua hụi là 32.400.000 đồng và tiền vay là 34.000.000 đồng, tổng cộng là 131.500.000 đồng (Một trăm ba mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng).

- Bị đơn ông Nguyễn Văn B và bà Đỗ Thị BH, người đại diện hợp pháp của bà BH là ông B trình bày:

Bà Nguyễn Thị BH có làm chủ hụi vào thời điểm năm 2016, năm 2017 đến tháng 01/2018 thì bà BH tuyên bố vỡ hụi. Ông B chỉ biết bà BH tham gia hụi và làm chủ hụi nhưng việc mở hụi, hốt hụi và đóng hụi chết giữa bà BH và các hụi viên cụ thể như thế nào thì ông B không biết. Ngoài ra, việc bà BH mua lại hụi, vay tiền của các hụi viên thì ông B cũng không biết.

Hin nay, bà BH bị bệnh tâm thần theo Kết luận giám định pháp y tâm thần số 207/2018/KLGĐTC ngày 25/10/2018 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ nên ông B không xác định được hiện nay bà BH nợ những ai và nợ bao nhiêu tiền. Do đó, ông B đồng ý sử dụng tài sản của gia đình đã bị kê biên trong vụ án hình sự và được thể hiện trong Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2019/HS- ST ngày 21/5/2019 để trả nợ cho bà BH.

Ngoài ra, hiện nay ông Nguyễn Văn B đang bị bệnh tim không có khả năng trả các khoản nợ thay cho bà BH.

Nay ông Nguyễn Văn B không đồng ý liên đới với bà Đỗ Thị BH trả cho bà Nguyễn Thị Phương T số tiền nợ hụi là 65.100.000 đồng, tiền mua hụi là 32.400.000 đồng và tiền vay là 34.000.000 đồng, tổng cộng là 131.500.000 đồng (Một trăm ba mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng).

Vi tư cách là người đại diện hợp pháp của bà BH thì ông B xác định bà BH đồng ý trả cho bà Nguyễn Thị Phương T số tiền nợ hụi là 65.100.000 đồng. Tuy nhiên, khi bà BH chấp hành án xong, trở về gia đình, minh mẫn và đi làm sẽ trả dần cho bà T số tiền nêu trên.

Vi tư cách là người đại diện hợp pháp của bà BH thì ông B xác định khi bà BH chấp hành án xong, hết bệnh và minh mẫn thì bà BH tự xác định có vay, mua hụi và đồng ý trả cho bà T tiền mua hụi là 32.400.000 đồng và tiền vay là 34.000.000 đồng hay không thì do bà BH tự quyết định.

Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm:

- Bản án số 13/2019/HS-ST ngày 21/5/2019 (Bản sao y).

- Đơn xác nhận nơi cư trú của người bị kiện (Bản chính).

- Kết luận giám định pháp y tâm thần số 207/2018/KLGĐTC ngày 25/10/2018 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ; Công văn số 207.0/2018/PYTT ngày 25/10/2018 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ (Bản photo).

- Biên bản làm việc ngày 03/4/2018 (Bản photo).

- Biên bản ghi lời khai của bà Đỗ Thị BH ngày 03/4/2018, Biên bản ghi lời khai của bà Đỗ Thị BH ngày 04/4/2018, Biên bản ghi lời khai của bà Đỗ Thị BH ngày 12/5/2018, Biên bản ghi lời khai của bà Đỗ Thị BH ngày 31/5/2018 (Bản photo).

- Đơn xin miễn giảm tiền tạm ứng án phí và án phí (Bản chính).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Phương T và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “V/v tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản, hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Văn B và bà Đỗ Thị BH cùng cư trú tại ấp N, xã AP, huyện TB, tỉnh ĐT nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu bà Nguyễn Thị Phương T về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn B và bà Đỗ Thị BH số tiền nợ hụi là 65.100.000 đồng, tiền mua hụi là 32.400.000 đồng và tiền vay là 34.000.000 đồng, tổng cộng là 131.500.000 đồng (Một trăm ba mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng).

Xét thấy, Theo Kết luận giám định pháp y về tâm thần số 207/2018/KLGĐTC ngày 25/10/2018 xác định tình trạng bệnh lý của bà BH như sau: Về y học: Trước, trong khi phạm tội thì đương sự không có bệnh lý tâm thần và sau khi phạm tội, hiện tại đương sự có bệnh lý tâm thần là rối loạn phân ly (F44.8-ICD10); Về năng lực: Tại thời điểm phạm tội đương sự có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, hiện tại đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần. Như vậy, tại thời điểm thỏa thuận vay tài sản, tham gia hụi và thực hiện các giao dịch về hụi thì bà T và bà BH đều có khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự theo quy định. Do đó, khi vay tài sản, tham gia hụi và thực hiện các giao dịch về hụi thì bà T và bà BH đều có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật. Việc bà T và bà BH vay tài sản, tham gia hụi và thực hiện các giao địch về hụi được thực hiện trên cở sở tự nguyện của các bên, phù hợp theo quy định của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội nên việc vay tài sản, tham gia hụi và thực hiện các giao địch về hụi có giá trị về mặt pháp lý.

Trong quá trình, thực hiện giao dịch vay tài sản, tham gia hụi và thực hiện các giao dịch về hụi thì sau khi đối chiếu bà BH còn nợ bà T số tiền 80.500.000 đồng. Sau khi tuyên bố vỡ hụi, bà BH bị khởi tố về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2019/HS-ST ngày 21/5/2019 xác định bà BH chiếm đoạt của bà T tiền 15.400.000 đồng. Đối với số tiền còn lại là 65.400.000 đồng, số tiền mua hụi 32.400.000 đồng, số tiền vay là 34.000.000 đồng tổng cộng là 131.500.000 đồng (Một trăm ba mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng) là tiền nợ dân sự. Ngoài ra, tại Biên bản làm việc ngày 03/4/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Thanh Bình thể hiện bà BH xác định bà T trình bày về tiền nợ hụi, tiền mua hụi và tiền vay nêu trên là đúng.

Ti Kết luận giám định pháp y về tâm thần số 207/2018/KLGĐTC ngày 25/10/2018 xác định hiện tại đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần. Do đó, Tòa án đưa ông Nguyễn Văn B (chồng bà BH) là người đại diện hợp pháp của bà BH là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Việc vay tài sản, tiến hành các giao dịch về hụi được bà BH thực hiện trong thời kỳ hôn nhân giữa ông B và bà BH, nên khoản nợ nêu trên là tài sản nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Mặt khác, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2019/HS- ST ngày 21/5/2019 thể hiện ông B đồng ý sử dụng tài sản của gia đình thực hiện nghĩa vụ trả cho các hụi viên. Do đó, bà T yêu cầu ông B và bà BH liên đới trả khoản nợ hụi nêu trên là phù hợp.

Từ những phân tích trên, bà Nguyễn Thị Phương T yêu cầu ông Nguyễn Văn B và bà Đỗ Thị BH liên đới trả cho bà T số tiền nợ hụi là 65.100.000 đồng, tiền mua hụi là 32.400.000 đồng và tiền vay là 34.000.000 đồng, tổng cộng là 131.500.000 đồng (Một trăm ba mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng) là có căn cứ chấp nhận.

[2.3] Xét ý kiến của ông Nguyễn Văn B không đồng ý liên đới với bà Đỗ Thị BH trả cho bà Nguyễn Thị Phương T số tiền nợ hụi là 65.100.000 đồng, tiền mua hụi là 32.400.000 đồng và tiền vay là 34.000.000 đồng, tổng cộng là 131.500.000 đồng (Một trăm ba mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng).

Vi tư cách là người đại diện hợp pháp của bà BH thì ông B xác định bà BH đồng ý trả cho bà Nguyễn Thị Phương T số tiền nợ hụi là 65.100.000 đồng. Tuy nhiên, khi bà BH chấp hành án xong, trở về gia đình, minh mẫn và đi làm sẽ trả dần cho bà T số tiền nêu trên.

Vi tư cách là người đại diện hợp pháp của bà BH thì ông B xác định khi bà BH chấp hành án xong, hết bệnh và minh mẫn thì bà BH tự xác định có vay, mua hụi và đồng ý trả cho bà T tiền mua hụi là 32.400.000 đồng và tiền vay là 34.000.000 đồng hay không thì do bà BH tự quyết định.

Xét thấy, như phần phân tích nêu trên, ý kiến của ông B là không có căn cứ chấp nhận.

[3] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Phương T nên ông Nguyễn Văn B và bà Đỗ Thị BH phải liên đới chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, Điều 429, Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 468 và Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015;

điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Phương T.

Buộc ông Nguyễn Văn B và Đỗ Thị BH liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Phương T số tiền nợ hụi là 65.100.000 đồng, tiền mua hụi là 32.400.000 đồng và tiền vay là 34.000.000 đồng, tổng cộng là 131.500.000 đồng (Một trăm ba mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí:

Ông Nguyễn Văn B và Đỗ Thị BH liên đới phải chịu số tiền 6.575.000 đồng (Sáu triệu năm trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 32/2019/DS-ST ngày 08/08/2019 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản, hụi

Số hiệu:32/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thanh Bình - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 08/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về