Bản án 312/2018/HS-ST ngày 17/09/2018 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 312/2018/HS-ST NGÀY 17/09/2018 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 17 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 417/2018/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 3809/2018/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2018 đối với các bị cáo:

Nguyễn Hoàng S, giới tính: nam, sinh năm: 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 156/42 Đặng Nguyên Cẩn, Phường 13, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: Không biết chữ; nghề nghiệp: không; con ông Nguyễn Hoàng S1 và bà Nguyễn Thị Kiều Y; có vợ và 02 con (con lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày: 16/9/2017 (có mặt);

- Người bào chữa:

Luật sư Vũ Xuân Hoằng, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, bào chữa cho bị cáo. (có mặt) - Bị hại:

Ông Trình Văn T Địa chỉ: 219/21B Mai Xuân Thưởng, Phường 6, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt) 

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 17/8/2015, Nguyễn Hoàng S đang ở nhà tại Ấp 2, xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh thì nhận được điện thoại của chị ruột là chị Nguyễn Thị Ngọc T, kêu Nguyễn Hoàng S đến phòng trọ của chị Nguyễn Thị Ngọc T để chở đồ về phòng trọ của mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Kiều Y tại số B7/16A, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh. Nguyễn Hoàng S đồng ý và lấy xe gắn máy hiệu Honda Wave (không rõ biển số) của vợ đi đến phòng trọ của chị Nguyễn Thị Ngọc T tại tại số 107 Trương Phước Phan, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân. Lúc này, anh Can (chưa rõ lại lịch) là bạn của chị Nguyễn Thị Ngọc T điện thoại báo cho Nguyễn Hoàng S biết chị Nguyễn Thị Ngọc T đang cãi nhau với Trịnh Văn T (là người sống chung với chị Nguyễn Thị Ngọc T như vợ chồng). Khi Nguyễn Hoàng S đến phòng trọ của chị Nguyễn Thị Ngọc T thì thấy cửa phòng đã khóa, Nguyễn Hoàng S ra sau phòng trọ thì gặp anh Can thì được biết chị Nguyễn Thị Ngọc T và anh Trịnh Văn T đánh nhau trong phòng trọ, sau đó chị Nguyễn Thị Ngọc T bỏ đi. Nguyễn Hoàng S điện thoại cho chị Nguyễn Thị Ngọc T thì chị Nguyễn Thị Ngọc T nói đang ở Xóm Cũ cách nhà trọ khoảng 50 mét. Nguyễn Hoàng S nhìn thấy 01 con dao (dài khoảng 20 cm, lưỡi dao dài khoảng 12 cm) nằm dưới đất gần cửa sau phòng trọ bên cạnh, Nguyễn Hoàng S nhặt lấy để dưới yên xe rồi chạy đi gặp chị Nguyễn Thị Ngọc T.

Trên đường đi, Nguyễn Hoàng S nhìn thấy Trịnh Văn T và bạn là anh Chung Hoàng T đang đi bộ trước số nhà 89 Trương Phước Phan, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Nguyễn Hoàng S điều khiển xe gắn máy ngã xuống đường. Nguyễn Hoàng S đứng dậy giằng co và đánh nhau bằng tay không với Trịnh Văn T. Trịnh Văn T bỏ chạy qua bên kia đường, chạy vào nhà dân lấy chiếc bình thủy đánh vào người Nguyễn Hoàng S làm nắp bình rơi, nước nóng đổ vào người Nguyễn Hoàng S. Nguyễn Hoàng S cầm dao tai phải (cán dao hướng ngón cái) đâm nhiều nhát vào người Trịnh Văn T. Trịnh Văn T cầm bình thủy đánh lại Nguyễn Hoàng S nhưng do bị Nguyễn Hoàng S đâm trúng cổ và tay nên Trịnh Văn T bỏ chạy bộ về hướng đường Tân Hòa Đông, Nguyễn Hoàng S quay lại lấy xe và cầm con dao chạy về hướng chợ Bình Trị Đông và ném con dao gây án trên đường Trương Phước Phan (hiện không thu hồi được). Sau đó, Nguyễn Hoàng S điện thoại nói cho chị Nguyễn Thị Ngọc T và bà Yến biết việc Nguyễn Hoàng S dùng dao đâm Trịnh Văn T. Sau khi bị đâm, Trịnh Văn T chạy bộ đến đầu hẻm 63 Trương Phước Phan thì ngã gục xuống đường. Lúc này, chị Nguyễn Thị Ngọc T cùng bạn là Trần Thị Phương H chạy xe gắn máy đi tìm được Trịnh Văn T và đưa Trịnh Văn T đến bệnh viện cấp cứu, đến ngày 25/8/2015 thì xuất viện.

Sau khi gây án, Nguyễn Hoàng S bỏ trốn, đến ngày 16/9/2017 thì ra đầu thú tại Công an phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hoàng S đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Tại bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 23/GĐHS.15 ngày 02/11/2015 của Trung tâm pháp y – Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận về thương tích của Trình Văn Trịnh Văn T như sau: “Vết thương vùng cổ trái gây thủng đứt động mạch dưới đòn, ống ngực, đã được phẩu thuật mở rộng vết thương, khâu động mạch, khâu ống ngực. Thương tích rất nguy hiểm đến tính mạng của đương sự; vết thương 04 cm ở cách tay trái đã được khâu. Thương tích không nguy hiểm đến tính mạng của đương sự. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện là 19%.

Cáo trạng số 134CT-VKS-P2 ngày 27/5/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng S về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.

Bị hại: không yêu cầu bồi thường và có yêu cầu không xử lý hình sự đối với Nguyễn Hoàng S.

Luật sư bào chữa cung cấp cho Hội đồng xét xử đơn xin bãi nại của người bị hại có nội dung là gia đình bị cáo đã bồi thường tất cả thiệt hại nên không yêu cầu bồi thường.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: sau khi nhận định về hành vi phạm tội và mức độ nguy hiểm gây ra cho xã hội, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo đã đề nghị:

Xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về phần dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định pháp luật. Luật sư tranh luận:

Không tranh luận với Viện kiểm sát về tội danh chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn bãi nãi xin không xử lý hình sự đối với bị cáo; bị cáo không biết chữ nên nhận thức pháp luật có phần lạc hậu; trong vụ án này, người bị hại có hành vi trái pháp luật là đánh chị Nguyễn Thị Ngọc T mà bị cáo có tiền sử về bệnh dễ gây căng thẳng nên trường hợp nghe tin chị Nguyễn Thị Ngọc T bị đánh nên đã có phần nào kích động về tinh thần; bị cáo đã đầu thú. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, m, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Viện kiểm sát: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trường hợp bị cáo tác động gia đình bồi thường cho bị hại để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Những tình tiết khác mà luật sư nêu ra, Viện kiểm sát không đồng ý và bảo lưu quan điểm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, luật sư;

XÉT THẤY

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các Trịnh Văn T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, luật sư bào chữa đã thực đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Luật sư, bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Căn cứ vật chứng thu giữ tại hiện trường, kết luận giám định, lời khai của những người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của người bị hại tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 17/8/2015, tại trước nhà số 89 Trương Phước Phan, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Nguyễn Hoàng S đã có hành vi dùng dao đâm nhiều nhát vào người Trịnh Văn T gây thương tích. Những vết thương tích mà Nguyễn Hoàng S gây ra cho Trịnh Văn T theo kết luận giám định 23/GĐHS.15 ngày 02/11/2015 của Trung tâm pháp y – Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: “Vết thương vùng cổ trái gây thủng đứt động mạch dưới đòn, ống ngực, đã được phẩu thuật mở rộng vết thương, khâu động mạch, khâu ống ngực. Thương tích rất nguy hiểm đến tính mạng của đương sự”. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo xuất phát từ hành vi có phần lỗi của anh Trịnh Văn T đã dùng bình thủy chứa nước nóng để đánh thì bị cáo mới có hành động dùng đao đâm vào người anh Trịnh Văn T; đồng thời vì nghe tin chị gái của mình là chị Nguyễn Thị Ngọc T bị anh Trịnh Văn T đánh nên đã có hành vi nêu trên, hành vi của bị cáo là bộc phát không có ý thức tước đoạt mạng sống của bị hại nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “ Cố ý gây thương tích”.

Bị cáo Nguyễn Hoàng S đã gây thương tích cho người bị hại với tỷ lệ thương tật là 19% ; bị cáo vì nguyên có nhỏ nhặt đã có hành vi làm tổn hại đến sức khỏe của người khác nên thuộc trường hợp phạm tội có “tính chất côn đồ” và dùng dao để thực hiện hành vi phạm tội là “hung khí nguy hiểm” nên phạm tội thuộc trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt quy định nhẹ hơn nên Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị Quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội và khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để từ đó áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 xét xử bị cáo.

[3]Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời làm mất trật tự, an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[4]Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có [5] Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét cho bị cáo các tình tiết: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú; tại phiên tòa, luật sư bào chữa cho bị cáo đã cung cấp Đơn bãi nại có nội dung xác định người bị hại đã nhận bồi thường toàn bộ thiệt hại nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm cho bị cáo một phần hình phạt; Hội đồng xét xử không chấp nhận quan điểm bào chữa của luật sư cho rằng bị cáo phạm tội do lạc hậu.

[6] Về phần dân sự:

Người bị hại xác định đã được bồi thương toàn bộ, không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

- 01 đôi dép nhựa quai màu đen;

- 01 đôi dép quai màu cam;

- 01 Cái bình thủy bị hư màu xanh vàng, cao 24 cm, đường kính 10 cm Đều là vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

(Tất cả được liệt kê theo Biên bản giao nhận tang Trịnh Văn T vật số 263/18 ngày 20/6/2018 của Cục thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

- 01 USB chứa dữ liệu vụ đánh nhau được ghi lại bởi camera trước số nhà 89 Trương Phước Phan, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ CHí Minh là vật chứng vụ án, hiện đang lưu tại hồ sơ vụ án nên tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 3 Điều 7; điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng S phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt Nguyễn Hoàng S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2017.

2. Về vật chứng:

Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Tịch thu, tiêu hủy:

- 01 đôi dép nhựa quai màu đen;

- 01 đôi dép quai màu cam;

- 01 Cái bình thủy bị hư màu xanh vàng, cao 24 cm, đường kính 10 cm (Tất cả được liệt kê theo Biên bản giao nhận tang Trịnh Văn T vật số 263/18 ngày 20/6/2018 của Cục thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh) Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án: 01 USB chứa dữ liệu vụ đánh nhau đang lưu trong hồ sơ vụ án tại bút lục 133A.

3. Án phí:

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016;

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.


2
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về