Bản án 31/2019/HS-PT ngày 09/05/2019 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 31/2019/HS-PT NGÀY 09/05/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Ngày 09 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 21/2019/TLPT-HS ngày 27 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc M do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2019/HS-ST ngày 22 tháng 02 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Ngọc M, sinh ngày 21 tháng 11 năm 1980 tại Thái Nguyên. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm T, xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc T và bà Cao Thị T; vợ: Thạch Thị S; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2004; con nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Bị cáo chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị tạm giam từ ngày 23/10/2018 đến ngày 22/11/2018 được thay thế bằng biện pháp cho gia đình bảo lĩnh, hiện tại ngoại; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ 40 phút ngày 23/10/2018 Nguyễn Ngọc M điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 20C- 061.03 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 20R-00231 chở hàng trên đường Quốc lộ 1A theo hướng Hà Nội - Hữu Nghị, khi đến Km16+350 Nguyễn Ngọc M điều khiển xe lùi vào đường nhánh ngõ 1, Quốc lộ 1A thuộc khối 9, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn để quay đầu, rơ moóc biển kiểm soát 20R - 00231 chắn ngang phần đường bên phải theo chiều đi Hữu Nghị - Hà Nội. Xe ô tô tải VAN nhãn hiệu FORD biển kiểm soát 29D- 503.91 do anh Đoàn Minh N điều khiển trên quốc lộ 1A hướng Hữu Nghị - Hà Nội, trên xe chở anh Đỗ Đình T đi đến đâm vào rơ moóc biển kiểm soát 20R-00231. Hậu quả làm anh Đoàn Minh N bị tử vong tại chỗ, anh Đỗ Đình T bị thương được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn cấp cứu, hai xe ô tô bị hư hỏng. Sau khi vụ tai nạn sảy ra Nguyễn Ngọc M đã đến công an thành phố Lạng Sơn đầu thú.

Tại bản giám định pháp y về tử thi số 120/2018/TT ngày 06/11/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Lạng Sơn kết luận: Nguyên nhân dẫn đến anh Đoàn Minh N chết là do tình trạng suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp hậu quả của vỡ tim, dập rách phổi hai bên do tương tác với vật tày lực quán tính lớn.

Tại bản giám định pháp y về thương tích số 10/2018/TT ngày 07/11/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Lạng Sơn kết luận thương tích của Đỗ Đình T tỷ lệ thương tật cộng lùi hiện tại 64% gồm: Sẹo lớn vùng má trái tỷ lệ 11%; sẹo vùng cằm và sẹo hạ cằm sát cổ, sẹo mu bàn tay phải, tỷ lệ 03%; sẹo lớn vùng đùi phải, vùng gối phải, tỷ lệ 08%; gẫy vỡ xương hàm dưới, tổn thương thái dương hàm, há miệng hạn chế, tỷ lệ 21%; gẫy chỏm xương đùi phải, teo cơ, ngắn chi, giảm chức năng khớp háng, tỷ lệ 31%; vỡ xương bánh chè, bong điểm bám mâm chày vùng khớp gối, hạn chế vận động, tỷ lệ 16%.

Tại Biên bản định giá tài sản trong tố tụng số 221; 222/ĐGTSTT ngày 27/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản, xác định phần hư hỏng của rơ moóc biển kiểm soát 20R-00231 thiệt hại 10.000.000 đồng; xe ô tô nhãn hiệu FORD TRANSIT biển kiểm soát 29D-503.91 bị thiệt hại 172.650.000 đồng.

Về bồi thường thiệt hại: Sau khi vụ tai nạn sảy ra đại diện Công ty Cổ phần thương mại T và gia đình bị cáo Nguyễn Ngọc M đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho bà Nguyễn Thị T là người đại diện hợp pháp của bị hại Đoàn Minh N số tiền 155.000.000 đồng; bồi thường anh Đỗ Đình T 30.000.000 đồng và anh Phạm Văn H là chủ sở hữu xe tải VAN biển kiểm soát 29D- 503.91 là 130.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị T đại diện hợp pháp của người bị hại Đoàn Minh N và bị hại anh Đỗ Đình T đều không yêu cầu bồi thường thêm.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2019/HS-ST ngày 22/02/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc M phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Áp dụng điểm a, b, d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc M 02 (hai) năm tù giam. Thời hạn tính từ ngày bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2018 đến ngày 22/11/2018 là 31 ngày.

Ngoài ra bản án còn tuyên về việc xử lý vật chứng; quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bị hại.

Ngày 27 tháng 02 năm 2019, bị cáo Nguyễn Ngọc M có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Ngọc M giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được xin được hưởng án treo với các lý do: Bản thân bị cáo phạm tội lần đầu, luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Bố mẹ đã tuổi cao, con còn nhỏ, vợ không có việc làm, bị cáo là lao động chính. Người đại diện theo pháp luật của bị hại Đoàn Minh N và bị hại Đỗ Đình T cũng có đơn trình bày xin cho bị cáo được hưởng án treo.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc M làm trong hạn luật định nên hợp lệ. Bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc M phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là đúng người, đúng tội, không oan. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã xuất trình thêm 01 đơn xin cải tạo tại địa phương có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên xác nhận vào đơn xin cải tạo tại địa phương (xác nhận bị cáo là lao động chính); người đại diện theo pháp luật của bị hại Đoàn Minh N và bị hại Đỗ Đình T cũng có đơn trình bày cho bị cáo được hưởng án treo; đây là các tình tiết mới. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 và nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015), có đủ điều kiện hưởng án treo theo quy định của Nghị quyết số 02/2018/HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành về án treo thì bị cáo đủ điều kiện để được hưởng sự khoan hồng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cụ thể: Giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm nhưng chuyển cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Ngọc M đều thừa nhận: Khoảng 04 giờ 40 phút ngày 23/10/2018, bị cáo điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 20C - 061.03 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 20R - 00231 chở hàng trên đường Quốc lộ 1A theo hướng Hà Nội - Hữu Nghị đến Km 16+350, điều khiển xe lùi vào đường nhánh ngõ 1, quốc lộ 1 A thuộc khối 9, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn để quay đầu; rơ moóc biển kiểm soát 20R - 00231 chắn ngang phần đường bên phải theo chiều đi Hữu Nghị - Hà Nội. Cùng lúc đó xe ô tô tải VAN, nhãn hiệu FORD biển kiểm soát 29 D- 503.91 do anh Đoàn Minh N điều khiển trên Quốc lộ 1A hướng Hữu Nghị - Hà Nội, trên xe chở anh Đỗ Đình T đi đến không làm chủ tốc độ đâm vào rơ moóc biển kiểm soát 20R-00231. Hậu quả anh Đoàn Minh N bị chết, gây thương tích cho anh Đỗ Đình T 64%, hai chiếc xe ô tô bị hư hỏng theo kết quả định giá là 182.650.000 đồng. Như vậy, bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc M phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a, b, d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc M mức hình phạt 02 (hai) năm tù giam là phù hợp, đúng quy định.

[3] Tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã xuất trình thêm các tài liệu, chứng cứ mới, gồm: 01 đơn đơn xin cải tạo tại địa phương có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên xác nhận vào đơn xin cải tạo tại địa phương (xác nhận bị cáo là lao động chính); bản thân bị cáo sinh sống tại địa phương chưa vi phạm pháp luật, luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương. Người đại diện hợp pháp của bị hại bà Nguyễn Thị T và bị hại anh Đỗ Đình T có đơn đề nghị xin cho bị cáo được hưởng án treo. Do đó, cần áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

[4] Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực bồi thường thiệt hại xong cho gia đình các bị hại; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; phạm tội lần đầu với lỗ vô ý và bản thân là lao động chính trong gia đình, đại diện bị hại và bị hại xin cho bị cáo được hưởng án treo; do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Nhận định này cũng phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn. Việc sửa án sơ thẩm là do có tình tiết mới.

[5] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc M được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Ngọc M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị,

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc M, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2019/HS-ST ngày 22/02/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn cụ thể:

1. Căn cứ điểm a, b, d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc M 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 09/5/2019);

Giao bị cáo Nguyễn Ngọc M cho Ủy ban nhân dân xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghi quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngay 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo Nguyễn Ngọc M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (09/5/2019).


61
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về