Bản án 31/2017/HS-ST ngày 29/11/2017 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ, TỈNH KON TUM

BẢN ÁN 31/2017/HS-ST NGÀY 29/11/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 29/11/2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 28/HSST ngày 03/10/2017 đối với bị cáo: Phan Quốc D, sinh năm 1986, tại Kon Tum; trú tại: Khối 7, thị trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 2/12; con ông Phan Hà Đ và bà Nguyễn Thị H (Huỳnh Thị H) (đã chết);tiền sự: Không.

Tiền án:

Bản án số 01/2016/HSST ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đăk GLei, tỉnh Kon Tum xử phạt Phan Quốc D 01 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản", theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Chấp hành xong hình phạt ngày 10/9/2016. Đã nộp xong tiền án phí hình sự và án phí dân sự. Về nhân thân:

Ngày 19/10/1998, Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, thời hạn 02 năm.

Bản án số 45/HSST ngày 29/9/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum xử phạt Phan Quốc D 05 năm tù, về tội "Cố ý gây thương tích", theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự Chấp hành xong hình phạt ngày 28/11/2007.

Bản án số 31/2008/HSPT ngày 26/11/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum xử phạt Phan Quốc D 18 tháng tù, về tội "Trộm cắp tài sản", theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/7/2017. Có mặt tại phiên toà.

Người bị hại: Anh Võ Văn K, sinh năm 1987; trú tại: Khối 5, thị trấn ĐăkTô, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn HD SaiSon; địa chỉ: 24 C Phan Đăng Lưu, phường 6, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền của Tổng Giám đốc: Ông Nguyễn Văn Phúc – Chuyên viên pháp lý (văn bản ủy quyền số 3010171/UQ-TGĐ ngày30/10/2017). Vắng mặt.

2. Anh Phạm Đình N, sinh năm 1982; trú tại: Số nhà 09 Bà Triệu, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 18/03/2017, bị cáo Phan Quốc D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 82E1 13806 đến nhà trọ của bà Nguyễn Thị Miền để tìm người bạn tên Hương. Khi đi qua phòng trọ của anh Võ Văn K, cửa mở, không có người, thấy có một chiếc máy vi tính xách tay. Bị cáo đã lấy chiếc máy vi tính cất dấu vào trong áo khoác rồi đi về. Đến khoảng 7 giờ 30 phút ngày 19/3/2017, bị cáo mang máy tính xách tay đến thành phố Kon Tum tìm nơi tiêu thụ. Đến nơi, bị cáo điện thoại cho bạn là Phạm Đình N nói có chiếc máy tính xách tay của vợ cần tiền nên bán. Anh N đồng ý mua với giá một triệu đồng.

Tại kết luận định giá tài sản số 10/KL-ĐGTS ngày 07/4/2017, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đăk Tô, thì chiếc máy vi tính xách tay có giá trị là 3.000.000 (ba triệu) đồng.

Tại bản cáo trạng số 28/KSĐT-TA ngày 02/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, truy tố bị cáo Phan Quốc D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ N quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 138; các điểm g, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 9 đến 12 tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 18/03/2017, bị cáo Phan Quốc D trộm cắp của anh Võ Văn K một chiếc máy vi tính xách tay nhãn hiệu Lenovo, trị giá3.000.000 đồng. Hành vi đó của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 điều 138 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tài sản của anh K, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, xã hội tại địa phương. Bản thân bị cáo đã bị Tòa án xét xử nhiều lần, đã được cải tạo, giáo dục nhưng không chịu ăn năn hối cải. Tại Bản án số 01/2016/HSST ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đăk GLei, tỉnh Kon Tum xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản", chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp "Tái phạm", là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cần phải xử phạt mức án nghiêm minh để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Song cũng xét thấy, tài sản bị cáo phạm tội có giá trị nhỏ, hành vi phạm tội đơn giản, bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn; đã thành khẩn khai báo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với anh Phạm Đình N là người mua chiếc máy vi tính nhưng không biết đó là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có, nên anh N không phải chịu trách nhiệm hình sự. Anh N vắng mặt tại phiên tòa, nếu có yêu cầu bồi thường thì giải quyết bằng vụ việc dân sự.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Võ Văn K đã nhận lại tài sản. Anh K vắng mặt tại phiên tòa, nếu có yêu cầu bồi thường thì giải quyết bằng vụ việc dân sự.

Về vật chứng: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 82E1 13806 là tài sản của bị cáo. Ngày 15/9/2016, bị cáo đã thế chấp cho Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn HD SaiSon để vay số tiền 18.513.000 đồng. Khoản tiền vay đã đến hạn ngày 15/9/2017, bị cáo còn nợ số tiền là 16.064.689 đồng. Tài sản thế chấp đã được đăng ký tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh . Việc thế chấp tài sản được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự. Hiện nay, khoản tiền vay đã đến hạn, theo hợp đồng thế chấp thì việc xử lý tài sản thế chấp do các bên thỏa thuận bằng cách lựa chọn một trong các phương thức: Bán tài sản thế chấp hoặc bên nhận thế chấp nhận chính tài sản thế chấp để thay thế cho việc thanh toán một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ được bảo đảm. Vì vậy, cần trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 82E1 13806 cho bị cáo Phan Quốc D và Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn HD SaiSon để xử lý tài sản thế chấp thu hồi vốn vay theo quy định. Việc thế chấp chiếc xe mô tô được thực hiện trước khi bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội. Hợp đồng thế chấp hợp pháp, tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Dân sự nên không có căn cứ để tịch thu chiếc xe sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phan Quốc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Quốc D 9 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 26/7/2017.

Về án phí: Căn cứ điều 99 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phan Quốc D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án.

Đối với người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


72
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 31/2017/HS-ST ngày 29/11/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:31/2017/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đắk Tô - Kon Tum
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/11/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
          Bản án/Quyết định phúc thẩm
            Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về