Bản án 31/2017/HNGĐ-ST ngày 06/09/2017 về tranh chấp ly hôn và nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 31/2017/HNGĐ-ST NGÀY 06/09/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ NUÔI CON

Ngày 06 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nông Cống xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 84/2017/TLST - HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2017 về việc “Tranh chấp Ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đình H, sinh năm: 1985 (có mặt).

Cư trú: Thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Chị Trịnh Thị H1, sinh năm: 1985 (là người bị TAND. huyện Nông Cống tuyên bố mất tích).

Địa chỉ và nơi cư trú cuối cùng: Thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện anh H nộp ngày 12/5/2017 và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Nguyễn Đình H trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị H1 xây dựng gia đình trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Tổ chức cưới có đăng ký kết hôn ngày 29/6/2005 tại Uỷ ban nhân dân xã Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc. Tháng 8 năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị H1 thường xuyên đi chơi với bạn về khuya, có lần còn uống rượu say, về nhà anh đã góp ý nhưng không được, hai bên đã cãi nhau, chị H1 có những lời lẽ xúc phạm đến anh. Sáng hôm sau khi anh đi làm, chị ở nhà và tự ý bỏ đi đến nay. Anh H cùng gia đình đã tìm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì. Ngày 30/3/2017, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống Quyết định giải quyết việc dân sự yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Trịnh Thị H1. Từ thời điểm đó đến nay, chị H1 không trở về. Anh và chị H1 quan hệ sinh lý lần cuối vào tháng 8 năm 2008. Nguyện vọng của anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, thời gian chị H1 mất tích đã lâu nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị H1.

Về con chung: Anh và chị H1 có 01 con chung Nguyễn Đình H2, sinh ngày 13/01/2006 đang ở với anh H. Nguyện vọng của anh sau khi ly hôn xin được nuôi con, không yêu cầu chị H1 cấp dưỡng.

Về tài sản, nợ chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký và đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS).

Chị H1 bị TAND huyện Nông Cống tuyên bố mất tích, đến nay vẫn không có mặt tại địa phương. Tòa án đã thực hiện việc niêm yết công khai các văn bản tố tụng. Vì vậy, đề nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 228 BLTTDS xét xử vắng mặt chị H1

Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh H. Về con: Giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Về tài sản: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Nông Cống nhận định:

[2] Về tố tụng: Từ khi chị H1 bị Tòa án nhân dân huyện Nông Cống tuyên bố mất tích đến nay chị không trở về. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt chị H1 theo Khoản 3 Điều 228 BLTTDS năm 2015.

[3] Về hôn nhân: Anh Nguyễn Đình H và chị Trịnh Thị H1 lấy nhau có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân: Do chị H1 thường đi chơi với bạn bè đến khuya mới về không xin phép anh, có hôm uống rượu say tới sáng mới về. Anh, chị đã có lời lẽ xúc phạm nhau. Chị H1 đã bỏ đi từ năm 2008 đến nay không có tin tức gì, mặc dù anh H và gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không thấy. Ngày 30/3/2017, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống Quyết định tuyên bố mất tích đối với chị Trịnh Thị H1. Từ khi tuyên bố mất tích đến nay, chị H1 không trở về. Quá trình giải quyết vụ án ly hôn, Tòa án đã thực hiện việc niêm yết công khai các văn bản bản tố tụng. Do đó, căn cứ Khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh H.

[4] Về con chung: Anh H và chị H1 có 01 con chung Nguyễn Đình H2, sinh ngày 13/01/2006. Ly hôn anh xin được nuôi con, không yêu cầu chị H1 cấp dưỡng. HĐXX xét thấy chị H1 đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, con lâu nay ở với anh H. Nay tiếp tục giao con cho anh H nuôi dưỡng là phù hợp.

[5] Về tài sản,công nợ và quyền sử dụng đất chung: Anh H không yêu cầu nên không xét.

[6] Về án phí: Anh H khởi kiện vụ án xin ly hôn nên phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 2 Điều 56, 57, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 BLTTDS; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Anh Nguyễn Đình H được ly hôn chị Trịnh Thị H1.

2. Về con chung: Giao cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng Nguyễn Đình H2, sinh ngày 13/01/2006 đến khi thành niên và có khả năng lao động.

Chị H1 có quyền và nghĩa vụ đi lại, thăm nom con chung không ai được cản  trở.

3. Về tài sản, công nợ và quyền sử dụng đất chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Anh Nguyễn Đình H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nông Cống theo biên lai thu số AA/2015/0006392 ngày 12/5/2017. Chấp nhận anh H đã nộp đủ án phí.

Quyền kháng cáo: Anh H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị H1 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


81
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 31/2017/HNGĐ-ST ngày 06/09/2017 về tranh chấp ly hôn và nuôi con

Số hiệu:31/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nông Cống - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 06/09/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về