Bản án 310/2019/HSPT ngày 24/10/2019 về tội giết người

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 310/2019/HSPT NGÀY 24/10/2019 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Vào ngày 24 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 308/2019/TLPT-HS ngày 11 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Chí D về tội “Giết người”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2019/HS-ST ngày 08/8/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Chí D (tên gọi khác Cu B), sinh ngày 21 tháng 6 năm 1991 tại phường B2, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Tổ dân phố 6, phường B2, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Điện B và bà Ngô Thị B1; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24 tháng 11 năm 2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đỗ Ngọc T - Văn phòng Luật sư C, Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Bình; Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Điện B, sinh năm 1949 (bố bị cáo Nguyễn Chí D, đã chết), có bà Ngô Thị B1 (mẹ của bị cáo D); trú tại: Tổ dân phố 6, phường B2, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 23 tháng 11 năm 2018, Nguyễn Chí D điều khiển xe ô tô bán tải hiệu RANGER, Biển kiểm soát 73C-083.84 đi về nhà, khi đi ngang qua quán của anh Đỗ Đức N và chị Ngô Thị H (quán NH) ở Tổ dân phố 5, phường B2, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, thì thấy một số xe ô tô để ở lòng lề đường nghĩ là xe của anh L dừng, đỗ lấn đường, nên D hạ cửa kính xe chửi anh Nguyễn Xuân L “Mi tưởng đường nhà mi hả L”. Anh L đi ra thì chị Hoa ngăn lại, D chạy xe ô tô đi và quay lại hai lần nữa, sau đó Nguyễn Chí D về nhà lấy 01 khẩu súng hơi bắn đạn chì (do D tự chế tạo) trong súng có 02 viên đạn chì đi đến quán NH thấy anh Nguyễn Xuân L đang ngồi cùng anh N, chị H và anh Đoàn Công C1. Nguyễn Chí D hạ kính cửa xe ô tô (phía lái) và đưa súng hướng nòng về phía bàn có anh L đang ngồi, bắn 02 phát, một phát trúng vào ly làm ly vỡ, một phát trúng vào nách trái của anh Đoàn Công C1 làm anh C1 bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới, đến ngày 24 tháng 11 năm 2018 chuyển điều trị tại Bệnh viện Trung ương Huế đến ngày 01 tháng 12 năm 2018 thì anh C1 ra viện.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Bình có quyết định trưng cầu giám định số 23/QĐ-PC 02 ngày 15 tháng 01 năm 2019.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 22-19/TgT ngày 16 tháng 01 năm 2019 của Trung tâm Pháp y, Sở Y tế tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định: Vết thương do đạn bắn dưới bả vai trái để lại dị vật thùy dưới phổi trái 20%; gãy khuyết một phần xương sườn VI 3%.

2. Tỷ lệ tổn thương chung cơ thể hiện tại là 22 %. Các vết thương do vật sắc gây nên.

3. Kết luận khác. Tính chất thương tích: Thương tích được tạo thành phù hợp đạn súng hơi bắn vào vùng nách sau trái theo hướng từ trái sang phải.

Tổn thương dị vật là đầu đạn kim loại là chì cản quan nằm ở nhu mô phổi hiện tại ổn định. Nếu là kim loại chì lâu dài sẽ ảnh hưởng sức khỏe cho nạn nhân như là nhiễm độc chì gây hoại tử tổ chức.

Ngày 17 tháng 12 năm 2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Bình có Quyết định trưng cầu giám định số 09/QĐ-PC 02, giám định khẩu súng.

Ngày 29 tháng 12 năm 2018, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình có Kết luận giám định số 63/QĐ (PC09), Kết luận:

Mẫu vật cần giám định ký hiệu A1 là súng tự chế sử dụng cơ chế bắn bằng áp suất khí nén (hơi), cỡ nòng 5,5 mm, có tính năng, tác dụng tương tự súng săn. Súng đang trong tình trạng sử dụng được.

Mẫu vật cần giám định ký hiệu A2 là đạn chì, cỡ nòng 5,5 mm, sử dụng để bắn cho súng hơi và các loại súng khác có cỡ nòng, cấu tạo phù hợp.

Có thể sử dụng súng cần giám định ký hiệu A1 để bắn với đạn cần giám định ký hiệu A2; thực nghiệm bắn trong khoảng cách 16 đến 20m, đạn có thể gây sát thương cho người và động vật.

Mẫu vật cần giám định ký hiệu A3 là súng tự chế bắn hơi cồn, thuộc loại đồ chơi nguy hiểm; không giám định xác định súng ký hiệu A3 có thể bắn với đạn ký hiệu A2 do không có điều kiện thực nghiệm.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Bình đã thu giữ 01 xe ô tô nhãn hiệu FORD, loại RANGER, màu sơn đỏ, Biển kiểm soát 73C-083.84, xe đã sử dụng cũ, bị bong tróc sơn nhiều chỗ, đầu xe phía phải bị móp lún khoảng 22cm; 01 dụng cụ tự chế hơi cồn; 01 gậy 3 khúc; 01 cây rựa; 01 khẩu súng hơi bắn đạn chì; 600 viên đạn; 01 ống ngắm màu đen, hiệu DISCOVERY; 01 còng số 8.

Quá trình điều tra, đã trả lại xe ô tô nhãn hiệu FORD, loại RANGER, màu sơn đỏ, Biển kiểm soát 73C-083.84 cho gia đình bị cáo.

Ông Đoàn Công C1 kê khai các khoản chi phí và yêu cầu bồi thường số tiền 93.059.622 đồng. Ông Nguyễn Điện B (bố của Nguyễn Chí D) đã bồi thường đủ theo yêu cầu.

Cáo trạng số 232/CT-VKS-P2 ngày 15 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Nguyễn Chí D về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015

Tại bản án hình sự sơ thẩm số  22/2019/HS-ST ngày 08/8/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã quyết định:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí D phạm tội “Giết người”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 15, khoản 3 Điều 57; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Chí D, xử phạt bị cáo Nguyễn Chí D 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 24 tháng 11 năm 2018.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm bồi thường dân sự; xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo và thi hành án theo quy định của pháp luật.

Ngày 15 tháng 8 năm 2019, bị cáo Nguyễn Chí D có đơn kháng cáo cho rằng: Tại phiên toà bị hại đề nghị giảm nhẹ cho bị cáo; gia đình bị cáo có công với Cách mạng; trước khi phạm tội bị cáo có nhiều hoạt động từ thiện; quá trình điều tra và xét xử bị cáo luôn khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải; Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hình phạt 09 năm tù mà Bản án sơ thẩm đã xử đối với bị cáo là quá nặng. Xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu ý kiến về quan điểm giải quyết vụ án như sau: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Chí D về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự 2015, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ đã được Tòa án sơ thẩm áp dụng và xử với mức án 09 năm tù là đúng pháp luật; đề nghị Tòa án phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của bị cáo D giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo D trình bày luận cứ bào chữa như sau: Bị cáo có hành vi dùng súng tự chế bắn vào người bị hại gây thương tích; hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ, Tòa án sơ thẩm đã áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS xử phạt bị cáo là đúng pháp luật; tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, sau khi Tòa án xét xử sơ thẩm thì cha của bị cáo là thương binh có công với đất nước đã chết; đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Chí D thống nhất với lời bào chữa của luật sư và cho rằng bị cáo có làm từ thiện, xin giảm nhẹ hình phạt tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Chí D tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở nhận định: Ngày 23/11/2018, Nguyễn Chí D điều khiển xe ô tô bán tải hiệu RANGER biển số 73C-083.84 nghĩ rằng ông Nguyễn Xuân L là người dừng đỗ xe ô tô gây cản trở đi lại của bị cáo, bị cáo về nhà lấy súng tự chế đến trước quán NH (Tổ dân phố 5, phường B2, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình) hạ kính xe ô tô dùng súng bắn hai phát vào nơi ông L đang ngồi với nhiều người khác trúng vào ông Đoàn Công C1 gây thương tích 22%. Tòa án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Chí D, thấy: Hành vi của bị cáo thể hiện tính côn đồ, xem thường tính mạng, sức khỏe người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong nhân dân, ảnh hưởng xấu an ninh xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự; tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; hậu quả bị cáo gây ra; nhân thân của bị cáo; áp dụng đúng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo 09 năm tù về tội “Giết người” là có căn cứ đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới; do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt tù, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về trách nhiệm bồi thường dân sự, về xử lý vật chứng, về án phí dân sự và hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Chí D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Chí D và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, Điều 15, khoản 3 Điều 57; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí D 09 (Chín) năm tù, về tội: “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 24/11/2018.

2. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2019/HS-ST ngày 08/8/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình trách nhiệm bồi thường dân sự, về xử lý vật chứng, về án phí dân sự và hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Chí D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


89
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 310/2019/HSPT ngày 24/10/2019 về tội giết người

Số hiệu:310/2019/HSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:24/10/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về