Bản án 307/2019/HNGĐ-ST ngày 21/11/2019 về ly hôn giữa ông S và bà T

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 307/2019/HNGĐ-ST NGÀY 21/11/2019 VỀ LY HÔN GIỮA ÔNG S VÀ BÀ T

Ngày 21/11/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1667/2019/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 8 năm 2019 về việc “Xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 335/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/10/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1979. Đa chỉ: P. T, TP. B, tỉnh Đ.

Bị đơn: Bà Đặng Thị T, sinh năm 1987. Địa chỉ: khu phố L, P. T, TP. B, tỉnh Đ.

(Ông S, bà T có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc S trình bày:

Tôi và bà Đặng Thị T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, hôn nhân tự nguyện, không bị ai đe dọa, cưỡng ép. Chúng tôi chung sống với nhau hạnh phúc thời gian đầu, đến cuối năm 2016 thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến thường xuyên cãi vã, dẫn đến xung đột và không tôn trọng lẫn nhau. Nguyên nhân do bà T có mối quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Nay xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi làm đơn xin ly hôn với bà T.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Thùy L 1, sinh ngày 15/7/2009 và cháu Nguyễn Ngọc L 2, sinh ngày 15/12/2012. Khi ly hôn tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu L 2, tôi đồng ý giao cháu L 1 cho bà T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm thời tôi không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Đặng Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông S xây dựng gia đình với nhau năm 2008, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, hôn nhân tự nguyện. Quá trình chung sống hạnh phúc thời gian đầu, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn về mặt tình cảm. Do quan điểm sống của hai vợ chồng không đồng nhất nên hay xảy ra xung đột và không còn tôn trọng nhau. Chúng tôi đã nhiều lần tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Nay ông S làm đơn ly hôn thì tôi đồng ý.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Thùy L 1, sinh ngày 15/7/2009 và cháu Nguyễn Ngọc L 2, sinh ngày 15/12/2012. Khi ly hôn tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu L 2, tôi đồng ý giao cháu L 1 cho ông S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Do mỗi người nuôi một cháu nên tạm thời tôi không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn bà Đặng Thị T hiện cư trú tại địa bàn TP. Biên Hòa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP Biên Hòa theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tống tụng cho bà Đặng Thị T nhưng bà không đến tòa tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng và hòa giải cũng như không đến Tòa án tham gia xét xử mà có đơn xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, xét xử của Tòa án, ông S có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 207, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành đưa vụ án xét xử vắng mặt đối với ông S và bà Đặng Thị T.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị T và ông Nguyễn Ngọc S có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2008, có đăng ký kết hôn trên cơ sở cả hai tự nguyện nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp, áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

Quá trình chung sống theo ông S trình bày sau khi kết hôn vợ chồng ông bà chung sống với nhau hạnh phúc thời gian đầu, đến cuối năm 2016 thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến thường xuyên cãi vã, dẫn đến xung đột và không tôn trọng lẫn nhau. Nguyên nhân do bà T có mối quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Nay xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông S làm đơn xin ly hôn với bà T.

Bà Đặng Thị T cũng thừa nhận quá trình chung sống hai vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn về mặt tình cảm. Do quan điểm sống của hai vợ chồng không đồng nhất nên hay xảy ra xung đột và không còn tôn trọng nhau. Ông bà đã nhiều lần tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Nay ông S làm đơn ly hôn thì bà đồng ý.

Xét thấy mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa ông S và bà Đặng Thị T đã thật sự trầm trọng. Thể hiện việc ông S cương quyết ly hôn, bà T cũng đồng ý ly hôn, cả hai ông bà không có ý muốn hòa giải hàn gắn đoàn tụ. Do vậy, nghĩ nên chấp nhận đơn xin ly hôn của ông S, giải quyết cho ông được ly hôn với bà Đặng Thị T là phù hợp.

[4] Về con chung: Bà Đặng Thị T, ông S có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Thùy L 1, sinh ngày 15/7/2009 và cháu Nguyễn Ngọc L 2, sinh ngày 15/12/2012. Khi ly hôn cả hai thỏa thuận giao cháu L 1 cho ông S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giao cháu L 2 cho bà T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, cháu L 1 cũng có nguyện vọng muốn ở với ông S, ông bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Do đó, giao cháu L 1 cho ông S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giao cháu L 2 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp ý chí của các bên đương sự và đúng quy định pháp luật. Tạm thời ông S, bà T không cấp dưỡng nuôi con.

Vì không trực tiếp nuôi con nên ông S, bà T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng.

[5] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[7] Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Ông S phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định, trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông S đã nộp 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa theo biên lai số 0008838 ngày 16/7/2019, ông S đã nộp xong.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 238 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng các Điều 51, 54, 57, 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Ngọc S.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Ngọc S được ly hôn với bà Đặng Thị T Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Thùy L 1, sinh ngày 15/7/2009, cho ông Nguyễn Ngọc S và cháu Nguyễn Ngọc L 2, sinh ngày 15/12/2012 cho bà Đặng Thị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động. Tạm thời ông S, bà T không cấp dưỡng nuôi con.

Vì không trực tiếp nuôi con nên ông Nguyễn Ngọc S, bà Đặng Thị T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con không ai được cản trở.

Vì quyền lợi của con khi cần thiết, các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: không có.

Án phí HNGĐ sơ thẩm: Ông S phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định, trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông S đã nộp 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa theo biên lai số 0008838 ngày 16/7/2019, ông S đã nộp xong.

Ông S và bà Đặng Thị T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 307/2019/HNGĐ-ST ngày 21/11/2019 về ly hôn giữa ông S và bà T

Số hiệu:307/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 21/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về