Bản án 30/2020/HNGĐ-ST ngày 11/05/2020 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 30/2020/HNGĐ-ST NGÀY 11/05/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 11 tháng 5 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 137/2020/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2020 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 03 năm 2020 và Quyết định hoãn phiền tòa số 52/2020/QĐST-HNGĐ ngày 21/4/2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Hoàng T, sinh năm 1995 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp TT, xã BB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kha L, sinh năm 1994 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp TT, xã BB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Trình bày của ông Trần Hoàng T tại đơn khởi kiện ngày 26/02/2020:

Về hôn nhân: Ông Trần Hoàng T và bà Nguyễn Thị Kha L tự nguyện chung sống với nhau có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã BB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 29/5/2015. Vợ chồng chung sống với nhau không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, ông và bà L đã ly thân một thời gian, xét thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau nên ông T yêu cầu được ly hôn với bà L.

Con chung: Ông T và bà L có 02 người con chung tên Trần Gia H, sinh ngày 15/02/2014 (giới tính nam) và Trần Chí T, sinh ngày 17/7/2016 (giới tính nam), các con chung hiện do ông T đang nuôi dạy. Khi ly hôn, ông T yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu xem xét.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Thực hiện đúng các quy định của tố tụng dân sự; về nội dung vụ án thì xét thấy mâu thuẫn giữa ông T và bà L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đối với con chung: Các cháu H, Tính đều là nam, đã sống ổn định với ông T từ bé đến nay. Do đó, các yêu cầu của ông T về hôn nhân, con chung là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Trần Hoàng T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn là bà Nguyễn Thị Kha L. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; bà L có nơi cư trú tại ấp Thanh Tùng, xã BB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đối với bà L lần thứ hai nhưng bà L vắng mặt không có lí do, ông T xin vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông T, bà L theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

[3] Về hôn nhân: Ông T và bà L tự nguyện chung sống với nhau có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã BB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 29/5/2015. Vợ chồng chung sống với nhau không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, ông T và bà L đã ly thân, xét thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau nên ông T yêu cầu được ly hôn với bà L. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà L đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Thời gian chung sống ông T xác định vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân giữa ông T và bà L không đạt được. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để ông T và bà L có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do bà L vắng mặt tại các lần hòa giải, xét xử không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho ông T và bà L được ly hôn là phù hợp.

[4] Về con chung: Ông T và bà L có 02 người con chung tên Trần Gia H, sinh ngày 15/02/2014 (giới tính nam) và Trần Chí T, sinh ngày 17/7/2016 (giới tính nam), các con chung hiện do ông T đang nuôi dạy. Khi ly hôn, ông T yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, các cháu Trần Gia H, Trần Chí T đều là nam, do ông T nuôi dạy từ bé cho đến nay, các cháu có thời gian dài sống ổn định với nhau, quá trình giải quyết vụ án bà L không có ý kiến gì đối với yêu cầu được nuôi dạy con chung của ông T. Do đó, cần chấp nhận cho ông T được tiếp tục nuôi dạy các con chung, ông T không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Bà L không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm con theo quy định của pháp luật, không ai được quyền ngăn cản.

[5] Về tài sản chung: Ông T xác định vợ chồng không có nên không đặt ra yêu cầu xem xét, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về nợ chung: Ông T xác định vợ chồng không có nợ người ngoài và người ngoài cũng không nợ vợ chồng nên không yêu cầu giải quyết. Tại xác nhận không có nợ đề ngày 25/02/2020 và biên bản ghi lời khai người làm chứng ngày 19/3/2020 xác nhận ông T và bà L không có nợ chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét về nợ chung.

[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông T phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1. Xét xử vắng mặt ông Trần Hoàng T và bà Nguyễn Thị Kha L.

2. Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Hoàng T về việc ly hôn, nuôi con chung với bà Nguyễn Thị Kha L.

2.1. Về hôn nhân: Ông Trần Hoàng T và bà Nguyễn Thị Kha L được ly hôn.

2.2. Về con chung: Giao cháu Trần Gia H, sinh ngày 15/02/2014 (giới tính nam) và cháu Trần Chí T, sinh ngày 17/7/2016 (giới tính nam) cho ông T tiếp tục nuôi dạy. Ông T không đặt ra yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con. Bà L không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.

2.3. Tài sản chung, nợ chung: Không có

3. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 26 tháng 02 năm 2020 ông T có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0011037 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.


20
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 30/2020/HNGĐ-ST ngày 11/05/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:30/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thới Bình - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 11/05/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về