Bản án 30/2018/HNGĐ-ST ngày 19/01/2018 về tranh chấp ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 30/2018/HNGĐ-ST NGÀY 19/01/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN 

Ngày 19 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 525/2017/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2017 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên toà số 05/2018/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Quốc T, sinh năm 1976, nơi cư trú: Số nhà A, tổ 29, đường K, phường M, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.

- Bị đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1978, nơi cư trú: Số nhà B (số cũ C) đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định. (Anh T có mặt; chị H vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN

1.Tại đơn khởi kiện nộp ngày 23-11-2017, bản tự khai ngày 07-12-2017 và tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Trần Quốc T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trần Thị H tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường C - thành phố N vào ngày 16-4-2004 trên cơ sở tự nguyện. Vì anh vi phạm pháp luật phải đi chấp hành án, trong thời gian anh đi chấp hành án thì chị H có quan hệ với người khác đã có con riêng. Năm 2016 anh chấp hành xong hình phạt tù, từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân, không còn tình cảm, không còn trách nhiệm với nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Anh đề nghị Toà án giải quyết cho vợ chồng ly hôn.

- Về nuôi con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Trần Ngọc Á, sinh ngày 15-10-2004. Nếu ly hôn anh đề nghị Tòa án giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con: Do anh chưa có công việc ổn định, anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng. Phương thức cấp dưỡng: 01 tháng/01 lần.

- Về chia tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân thành phố Nam Định đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Trần Thị H nhưng chị H không đến Toà án làm việc.

3. Tại biên bản thu thập chứng cứ về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, đại diện Tổ dân phố số X, phường C, thành phố N cung cấp:

Vợ chồng chị Trần Thị H và anh Trần Quốc T có đăng ký kết hôn tại UBND phường Cửa Bắc, thành phố Nam Định. Chị Trần Thị H đăng ký hộ khẩu và hiện đang sinh sống tại số nhà B (số cũ C) đường Đ, thành phố N. Anh T không sinh sống tại địa chỉ trên, thỉnh thoảng mới về để thăm con nên địa phương không biết nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng anh chị. Về con chung: vợ chồng anh T và chị H có một con chung. Đại diện địa phương đề nghị Toà án giải quyết về quan hệ hôn nhân và con chung của anh T và chị H theo quy định của pháp luật.

4. Tại đơn đề nghị đề ngày 13-12-2017, cháu Trần Ngọc Á - con chung của anh T và chị H trình bày: Nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.

5. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký phiên toà trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án: Đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, anh T đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; chị H không đến Tòa án để giải quyết vụ án mặc dù Tòa án đã giao các văn bản tố tụng hợp lệ.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Xử ly hôn giữa anh Trần Quốc T và chị Trần Thị H; Giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Ngọc Á, anh T cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Ánh trưởng thành, tự lập được. Về tài sản chung: không có yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là chị Trần Thị H đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa, vì vậy Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và của Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Trần Quốc T và chị Trần Thị H là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống, anh T vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành hình phạt tù. Sau khi anh chấp hành xong hình phạt tù, vợ chồng không sống chung, không quan tâm và không có trách nhiệm với nhau. Nay anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn. Xét tình trạng hôn nhân giữa anh Trần Quốc T và chị Trần Thị H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của anh T, xử cho anh T và chị H ly hôn theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về nuôi con chung: Anh T và chị H có một con chung là cháu Trần Ngọc Á, sinh ngày 15-10-2004. Hiện nay cháu Á đang được chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Quan điểm của anh T đề nghị Tòa án giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu H có nguyện vọng được ở với mẹ. Xét hiện tại cháu Á đang sinh sống ổn định cùng chị H, cháu có điều kiện được đảm bảo về cuộc sống và học tập; mặt khác cháu là con gái đến tuổi trưởng thành nên cần được sự chăm sóc của mẹ. Vì vậy, giao cháu Trần Ngọc Á cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với qui định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không có quan điểm về cấp dưỡng nuôi con. Anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/ tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, phương thức cấp dưỡng 01 tháng/01 lần. Xét sự tự nguyện của anh T không vi phạm đạo đức, không trái qui định của pháp luật nên được ghi nhận.

[3] Về chia tài sản chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm (án phí trong vụ án ly hôn và án phí cấp dưỡng) anh T phải nộp theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83  Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

- Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

1. Xử ly hôn giữa anh Trần Quốc T và chị Trần Thị H.

2. Giao cháu Trần Ngọc Á, sinh ngày 15-10-2004 cho chị Trần Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Trần Quốc T cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)/ tháng kể từ tháng 01/2018 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động tự lập được, phương thức cấp dưỡng: 01 tháng/01 lần.

Anh Trần Quốc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Quốc T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Số tiền này được trừ vào tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp tại biên lai số 0000739 ngày 24-11-2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định. Án phí cấp dưỡng anh T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng)

4. Anh Trần Quốc T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Trần Thị H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


50
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 30/2018/HNGĐ-ST ngày 19/01/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:30/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nam Định - Nam Định
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/01/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về