Bản án 30/2017/HSST ngày 07/09/2017 về tội cố ý gây thương tích cho người khác

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN- TỈNH QUẢNG NAM

BẢN ÁN 30/2017/HSST NGÀY 07/09/2017 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH CHO NGƯỜI KHÁC

Ngày 07 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2017/HSST ngày 26/7/2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2017/HSST-QĐ ngày 24/8/2017, đối với bị cáo:

Phan C. (tên gọi khác: Ròm), sinh năm: 1993

Tại: thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

Nơi cư trú: Tổ 11, thôn 9, xã Cẩm Phô, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

Số chứng minh nhân dân: 205828044, do Công an tỉnh Quảng Nam cấp ngày 07/12/2010

Nghề nghiệp: Lái xe

Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam

Con ông Phan Công D. và bà Trần Thị B..

Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư, chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 08/5/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích cho người khác”.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/5/2017 đến ngày 31/5/2017 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lãnh. “Có mặt”

- Người bị hại: Anh Trương Thanh T., sinh năm: 1987. “Vắng mặt”

Nơi cư trú: Tổ 03, thôn Đông Hà, xã Cẩm Kim, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Nguyễn V., sinh năm: 1979. “Có mặt”

Nơi cư trú: Tổ 13, thôn Vĩnh Nam, xã Duy Vinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam

2/ Anh Trần Duy V., sinh năm: 1987. “Vắng mặt”

Nơi cư trú: Tổ 02, thôn Đông Vĩnh, xã Cẩm Kim, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

3/ Anh Lê Đức T., sinh năm: 1986. “Có mặt”

Nơi cư trú: Thôn Nhơn Bồi, xã Duy Thành, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam

-   Người làm chứng:

Anh Phan Công P., sinh năm: 1988. “Có mặt”

Nơi cư trú: Tổ 10, thôn Trung Hà, xã Cẩm Kim, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 19/4/2017, tại xã Duy Vinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, Trương Thanh T., Trần Duy V. và một số người khác gây gỗ, đánh nhau và gây thương tích nhẹ cho Nguyễn V. và Lê Đức T..

Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Phan C. nhận được tin báo anh rể là Nguyễn V. bị Trương Thanh T. đánh nên C. điện thoại bảo T. đến xin lỗi V.. Do T. không đồng ý đến ngay nên C. có nói là gặp T. ở đâu sẽ chém ở đó. Nói xong, C. xuống bếp nhà mình lấy 01 con dao (theo lời khai của C. là dao xắt chuối, dài 01 mét, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 0,4 mét, cán dao bằng gỗ dài 0,6 mét) rồi điều khiển xe môtô biển kiểm soát 43K5-7355 đi tìm T. để đánh. Khi đến khu vực ngã tư đường bê tông thuộc tổ 02, thôn Đông Vĩnh, xã Cẩm Kim, huyện Duy Xuyên thì C. gặp T. nên C. dừng xe lại rồi cầm dao chạy bộ đến chỗ T.. Thấy vậy, T. chạy bộ ngược trở lại trong hẻm. T. chạy được khoảng 10 mét thì bị C. đuổi kịp, T. quay người lại đối mặt với C. thì bị C. cầm dao ở tay phải chém ngang một nhát từ phải qua trái (theo hướng của C.) trúng vào vùng ngực trái của T.. T. xông vào dùng hai tay đẩy vào người C. rồi chạy ngược ra lại hướng ngã tư. C. tiếp tục cầm dao đuổi theo T.. Khi T. quay mặt về bên trái để nhìn về phía sau xem C. đang ở đâu thì lúc này C. đã ép sát chém vào đầu T. một nhát từ trên xuống dưới, trúng vào phía sau đầu làm đứt một mảng da đầu, lưỡi dao tiếp tục đi xuống trúng vào phía sau gáy của T. gây thương tích. T. tiếp tục chạy vào nhà Trần Duy V. ở gần đó để trốn. C. quay lại điều khiển xe mô tô về lại nhà của mình. Trên đường đi, C. vứt con dao gây án xuống sông thuộc khu vực thôn Đông Hà, xã Cẩm Kim, thành phố Hội An. Trương Thanh T. được Trần Duy V. đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Thái Bình Dương, thành phố Hội An, sau đó chuyển Bệnh viện Đa khoa thành phố Đà Nẵng điều trị, đến ngày 28/4/2017 thì xuất viện.

Tại Bản kết luận giám định thương tích số 103/GĐTT.17 ngày 04/5/2017 và Bản kết luận giám định bổ sung thương tích số 149/GĐTT.17 ngày 13/6/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Nam cùng kết luận thương tích của Trương Thanh T. là 21%.

Bản cáo trạng số 28/CTr-VKS ngày 24/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An truy tố bị cáo Phan C. (tên gọi khác: Ròm) về tội “Cố ý gây thương tích cho người khác” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Phan C. về tội “Cố ý gây thương tích cho người khác”. Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường xong cho người bị hại, được người bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự; áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo theo quy định tại Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội (khóa XIV) về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 104; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm e khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Sửa đổi bổ sung năm 2009); Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Phan C. từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Lời khai của người bị hại tại hồ sơ vụ án là phù hợp với ý kiến bị cáo về diễn biến vụ án; bị hại đã nhận xong các khoản bồi thường thiệt hại và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm; người bị hại có Đơn bãi nại và xin không truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Bị cáo Phan C. đồng ý với nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An truy tố hành vi của bị cáo là đúng, thống nhất ý kiến Kiểm sát viên về các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo ân hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hội An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phan C. khai nhận: Mặc dù không có mâu thuẫn gì với Trương Thanh T., nhưng vào khoảng 16 giờ ngày 19/4/2017, tại thôn Đông Vĩnh, xã Cẩm Kim, thành phố Hội An, Phan C. đã sử dụng con dao dài 01 mét (phần lưỡi dao bằng kim loại dài 0,4 mét, cán dao bằng gỗ dài 0,6 mét) chém Trương Thanh T. gây tỷ lệ thương tích cơ thể là 21%. Lời khai của bị cáo là phù hợp bản cáo trạng, lời khai của người bị hại, phù hợp với Bản kết luận giám định thương tích số 103/GĐTT.17 ngày 04/5/2017 và Bản kết luận giám định bổ sung thương tích số 149/GĐTT.17 ngày 13/6/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Nam và các chứng cứ khác đã được xem xét, đánh giá tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở khẳng định bị cáo Phan C. phạm tội “Cố ý gây thương tích cho người khác” theo Điều 104 Bộ luật Hình sự 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009.

Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo C. khai sử dụng con dao bằng kim loại dài 01 mét, trong đó cán dao bằng gỗ dài 60cm, lưỡi bằng kim loại dài 40cm là tình tiết định khung “Dùng hung khí nguy hiểm” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999; bị cáo không có mâu thuẩn gì với anh Trương Thanh T., nhưng chỉ vì một mâu thuẩn nhỏ giữa anh T. với Nguyễn V. (là anh rể bị cáo) mà bị cáo C. chém anh T. gây thương tích 21%, do đó hành vi của bị cáo “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999. Vì vậy, dù tỷ lệ thương tích do bị cáo gây ra cho người bị hại là 21%, nhưng với hai tình tiết định khung hình phạt như trên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích cho người khác” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình năm 1999 sự là hoàn toàn có căn cứ.

Tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định khung hình phạt của điều luật từ 02 năm đến 07 năm tù, trong khi khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định khung hình phạt từ 02 năm đến 06 năm tù. Do đó, áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo theo quy định tại Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội (khóa XIV) về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 3 Điều 7 và khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì hành vi cố ý gây thương tích cho người khác của bị cáo được xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm thì thấy: Tính mạng, sức khỏe của con người là một khách thể được pháp luật bảo vệ; nhưng do có bản tính côn đồ, xem thường pháp luật mà bị cáo đã chém anh Tân với tỷ lệ thương tích 21%. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, cần phải xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội và cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Mặc dầu bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu. Ngày 08/5/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích cho người khác” và đã được xóa án tích; khi bị cáo chém Trương Thanh T. một nhát từ phải sang trái, gây thương tích cho T. làm T. bỏ chạy, bị cáo cố ý đuổi theo nhằm mục đích tiếp tục gây thương tích cho anh T., do đó hành vi này của bị cáo là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã bồi thường xong thiệt hại cho người bị hại và được người bị hại bãi nại, xin không truy cứu trách nhiệm hình sự, nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới khung hình phạt, thể hiện s khoan hồng của pháp luật.

Xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là một con dao dài 01 mét (phần lưỡi dao bằng kim loại dài 0,4 mét, cán dao bằng gỗ dài 0,6 mét), Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không tìm được nên không có cơ sở để xem xét. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 43K5-7355, sau khi gây thương tích cho anh Trương Thanh T., Phan C. đã mang ra thành phố Đà Nẵng bán cho một người không rõ tên, địa chỉ. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

Bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra, bị cáo và người bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong các khoản thiệt hại nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Phan C. (tên gọi khác: Ròm) phạm tội “Cố ý gây thương tích cho người khác”.

Áp dụng: Khoản 2 Điều 104; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; điểm e khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009); Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội (khóa XIV) về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 3 Điều 7; khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, phạt bị cáo Phan C. (tên goi khác: Ròm)  01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Bị cáo Phan C. (tên gọi khác: Ròm) được trừ 10 (mười) ngày đã tạm giam (từ ngày 22/5/2017 đến ngày 31/5/2017) vào thời gian chấp hành hình phạt.

Về án phí: Bị cáo Phan C. (tên gọi khác: Ròm)  phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 07/9/2017); đối với người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


106
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về