Bản án 300/2018/HNGĐ-ST ngày 19/11/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 300/2018/HNGĐ-ST NGÀY 19/11/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON CHUNG

Ngày 19 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 530/2018/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2018 về tranh chấp: Ly hôn; nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 252/2018/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Kim P, sinh năm 1977.

- Bị đơn: Anh Võ Văn M, sinh năm 1972.

Cùng trú tại: Ấp 5, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau

(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn chị Trần Kim P trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh M chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã K, huyện T vào ngày 30/7/1997.

Quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc nhưng thời gian về sau vợ chồng thường hay bất đồng quan điểm, dẫn đến cãi nhau. Hiện, vợ chồng không còn sống chung mà đã ly thân từ tháng 6/2013 cho đến nay. Nay, chị và anh M không còn ai quan tâm đến ai, tình cảm vợ chồng đã không còn, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh M.

Về con chung: Chị và anh M có 02 người con chung tên Võ Chí B, sinh ngày 13/6/1998 và Võ Thái B, sinh ngày 20/8/2001. Hiện cháu Chí B đã trưởng thành, có cuộc sống riêng, còn cháu Thái B hiện đang sống chung với anh M. Chị đồng ý giao cháu Thái B cho anh M tiếp tục nuôi dưỡng. Chị đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ: Chị xác định không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay, chị P yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt chị theo quy định; đồng thời chị vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày.

Đối với bị đơn anh Võ Văn M: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh M vắng mặt; không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Võ Văn M có nơi trú tại ấp 5, xã K, huyện T; về quan hệ pháp luật tranh chấp là: Ly hôn, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Chị P có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh M vắng mặt tại phiên tòa; căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị P và anh M theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn ngày 30/7/1997 của Ủy ban nhân dân xã K, huyện T đã cấp cho chị P và anh M nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị P yêu cầu ly hôn anh M, vì chị cho rằng hôn nhân đã mâu thuẫn trầm trọng, không hạnh phúc và không thể hàn gắn lại được nữa. Hiện, chị và anh M đã không còn sống chung mà đã ly thân từ tháng 6/2013 cho đến nay. Đối với anh M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh M không có văn bản hay ý kiến gì đối với yêu cầu xin ly hôn của chị P. Tòa án cũng đã triệu tập nhiều lần hòa giải để tạo điều kiện cho anh chị hàn gắn nhưng anh M vẫn vắng mặt, như vậy cho thấy anh M không có thiện chí trong việc hàn gắn gia đình và chị P kiên quyết ly hôn với anh M. Xét, giữa chị P và anh M đã không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau; hiện anh chị đã ly thân từ tháng 6/2013 cho đến nay vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị P, cho chị P được ly hôn với anh M là phù hợp.

[3] Về con chung: Chị P và anh M có 02 người con chung tên Võ Chí B, sinh ngày 13/6/1998 và Võ Thái B, sinh ngày 20/8/2001. Cháu Chí B đã trưởng thành, có cuộc sống riêng nên không đặt ra giải quyết. Cháu Thái B thì đang sống chung với anh M. Chị P đồng ý giao cháu Thái B cho anh M tiếp tục nuôi dưỡng. Chị đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Do hiện nay, cháu Chí B đang sống chung với anh M, ổn định về thời gian, phát triển tốt về mọi mặt, nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Chí B cho anh M tiếp tục nuôi dưỡng.

[4] Về cấp dưỡng: Chị P đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu Chí B theo quy định của pháp luật; anh M không có ý kiến về phần cấp dưỡng của chị P. Xét, theo quy định tại Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: "Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con”, do đó buộc chị P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Chí B là phù hợp với quy định pháp luật. Về mức cấp dưỡng, theo quy định tại Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và hướng dẫn tại khoản 2, mục III của Công văn số 24/1999/KHXX ngày 17/3/1999 của Tòa án nhân dân tối cao thì mức cấp dưỡng tối thiểu không dưới 1/2 mức lương cơ sở do nhà nước quy định tại thời điểm xét xử đối với 01 người con, mức lương cơ sở hiện nay là 1.390.000 đồng, do đó buộc chị P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Chí B số tiền 695.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Chí B đủ 18 tuổi là phù hợp. Thời điểm cấp dưỡng được tính kể từ ngày 19/11/2018.

[5] Về tài sản chung và nợ: Chị P không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[6] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 235; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng: Điều 19; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 và Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 110; Điều 116; Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Kim P.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Kim P với anh Võ Văn M.

Về con chung: Tiếp tục giao cháu Võ Thái B, sinh ngày 20/8/2001 cho anh Võ Văn M trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Trần Kim P không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng: Buộc chị Trần Kim P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Võ Thái B, sinh ngày 20/8/2001 số tiền 695.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Thái B đủ 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng được tính kể từ ngày 19/11/2018.

Về tài sản chung và nợ: Chị P không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị P đã dự nộp trước 300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008465 ngày 24/7/2018 được chuyển thu án phí. Chị P còn phải nộp tiếp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 300/2018/HNGĐ-ST ngày 19/11/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

Số hiệu:300/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:19/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về