Bản án 29/2020/HSST ngày 27/05/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 29/2020/HSST NGÀY 27/05/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 27 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2020/HSST ngày 07 tháng 02 năm 2020, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2020/QĐXX-HS ngày 24 tháng 4 năm 2020 đối với:

+ Bị cáo Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1988; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: Thôn Nh, xã Bạch Th, huyện Duy T, tỉnh Hà Nam (Nay là tổ dân phố Giáp Nh, phường Bạch Th, thị xã Duy T), tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị L; vợ: Bùi Thị Th; con: Chưa có; tiền án: ngày 22/7/2008 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt 13 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2015; ngày 10/8/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/8/2018; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ ngày 12/11/2019, chuyển tạm giam ngày 18/11/2019 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; (có mặt).

* Bị hại: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1950; địa chỉ: Tổ dân phố Đồng V, phường Đồng V, thị xã Duy T, Hà Nam; vắng mặt.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam Thịnh V; địa chỉ: Tầng 2 tòa nhà R, số 9 đường Đoàn Văn B, phường 12, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: Ông Lô Bằng Gi - Chủ tịch hội đồng thành viên. Đại diện theo ủy quyền: Ông Lý Tuấn A- Giám đốc trung tâm an ninh. Ủy quyền lại cho anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1989; địa chỉ: Xóm 9, xã Tân S, huyện Kim B, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn Nội H, xã Nam Ph, huyện Phú X, thành phố Hà Nội; vắng mặt. - Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ dân phố Giáp Nh, phường Bạch Th, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; có mặt.

*Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1996 (vắng mặt); anh Nguyễn Chí L, sinh năm 1990 (vắng mặt); bà Đỗ Thị Tr, sinh năm 1961 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 05/11/2019, Nguyễn Văn Ch điều khiển xe mô tô BKS 17B7-378.82 từ nhà mình ở thôn Nh, xã Bạch Th, huyện Duy T (Nay là tổ dân phố Giáp Nh, phường Bạch Th, thị xã Duy T), tỉnh Hà Nam đi ra Khu công nghiệp Đồng Văn. Trên đường đi, Ch nảy sinh ý định cướp giật tài sản của người đi đường để lấy tiền ăn tiêu. Khi đi đến gần chân cầu vượt Đồng Văn, Ch điều khiển xe đi vào đường gom, thấy có vũng bùn ở ven đường, Ch dừng xe, lấy bùn bôi lên biển số xe để che cho mọi người không nhìn thấy các chữ và số trên đó. Sau đó, Ch điều khiển xe đi ra QL1A, về phía Phủ Lý. Khi đi qua cầu vượt Đồng Văn được một đoạn, Ch điều khiển xe mô tô 17B7- 378.82 rẽ trái đi qua đường sắt Bắc – Nam, vào thôn Đồng V, thị trấn Đồng V, huyện Duy T (Nay là tổ dân phố Đồng V, phường Đồng V, thị xã Duy T). Đi được khoảng 600m thì Ch dừng xe và quay lại đi ra phía đường sắt được khoảng 300m thì có bà Nguyễn Thị Đ và chị Nguyễn Thị V đang đi bộ ngược chiều về phía Ch. Chị V đi phía trong, giáp lề đường; bà Đ đi phía bên ngoài, trên cổ đeo 01 sợi dây chuyền có khối lượng 4,99 chỉ và mặt dây chuyền có khối lượng 01 chỉ đều là vàng loại 9999. Thấy vậy, Ch điều khiển xe áp sát bà Đ, tay trái giật sợi dây chuyền vàng trên cổ bà Đ làm dây chuyền của bà Đ tuột khỏi cổ, mặt dây chuyền rơi xuống đường. Ch cầm sợi dây chuyền của bà Đ ở tay trái và điều khiển xe mô tô 17B7-378.82 đi nhanh về phía đường sắt. Khi đi đến gần đường sắt, Ch điều khiển cho xe rẽ phải đi theo đường vệ sông về phía chợ Đồng Văn, đi qua Trường mầm non phường Đồng Văn ra QL38 về phía cầu vượt Vực Vòng. Khi đi qua vòng xuyến Vực vòng, Ch điều khiển xe mô tô rẽ trái vào đường gom đường cao tốc. Đi được khoảng 300m, Ch dừng xe lại, xem sợi dây chuyền vừa giật được, rồi đeo vào cổ mình. Sau đó, Ch tiếp tục điều khiển xe mô tô 17B7-378.82 đi qua Khu công nghiệp Đồng Văn ra QL1A, đi lên hiệu vàng Kim Gan thuộc thôn Nội H, xã Nam Ph, huyện Phú X, thành phố Hà Nội do ông Nguyễn Văn H làm chủ để bán. Khi vào gặp ông H, Ch nói “Cho cháu bán sợi dây chuyền vàng”, ông H cân sợi dây chuyền được 4,99 chỉ và trả Ch giá 4.000.000 đồng/1 chỉ. Ch đồng ý bán sợi dây chuyền cho ông H với số tiền 19.960.000 đồng. Sau đó, Ch đã tiêu xài cá nhân hết 18.260.000 đồng. Đến ngày 12/11/2019, Ch bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Duy Tiên bắt giữ và thu giữ số tiền còn lại là 1.700.000 đồng.

Vật chứng tài sản thu giữ gồm: Thu của Nguyễn Văn Ch khi bắt giữ: 01 xe mô tô Vision, sơn màu trắng - nâu - đen, BKS 17B7-378.82 và 01 chùm chìa khoá xe mô tô. Trong cốp xe mô tô BKS 17B7-378.82 có: 1.700.000đ, 01 khẩu trang y tế màu đen, 01 chứng minh nhân dân số 091564996 và 01 giấy phép lái xe hạng A1 số AD684111 mang tên Nguyễn Văn Ch; 01 bản phô tô giấy đăng ký xe mô tô BKS 17B7-378.82 mang tên Nguyễn Thị M SN 1993 trú tại xã Quang B, huyện Kiến X, tỉnh Thái Bình. Thu của bà Nguyễn Thị Đ 01 miếng kim loại màu vàng có đường kính 2cm, là mặt dây chuyền bị rơi trên đường khi Ch giật sợi dây chuyền của bà. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn Ch, Cơ quan CSĐT Công an huyện Duy Tiên thu giữ tại cửa buồng nơi để đồ 01 đôi giày vải màu đen dạng giày lười.

Kết luận định giá số 41/KL-HĐ ngày 18/11/2019 của Hội đồng định giá huyện Duy Tiên: 5.99 chỉ vàng loại 9999 có giá 4.163.000 đ/chỉ = 24.936.000đ.

Kết luận định giá số 47/KL-HĐ ngày 07/12/2019 của Hội đồng định giá huyện Duy Tiên: Chiếc xe mô tô 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu xe Vision, màu trắng, BKS 17B7-378.82 có giá 16.000.000đ.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 21/12/2019, đại diện gia đình bị cáo đã thống nhất và bồi thường cho bị hại số tiền 19.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, xác định 01 miếng kim loại màu vàng có đường kính 2cm, là mặt dây chuyền bị rơi trên đường khi Ch giật sợi dây chuyền của bà có khối lượng là 01 chỉ vàng loại 9999 là tài sản hợp pháp của bà Đ nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên đã trả lại cho bà Đ.

Đối với xe mô tô Vision, màu trắng, BKS 17B7-378.82 và chùm chìa khoá xe mô tô, quá trình điều tra đã xác định được là tài sản của chị Nguyễn Thị M - SN 1993 ở thôn Hoa Th, xã Quang B, huyện Kiến X, tình Thái Bình (hiện đã chuyển về cư trú tại thôn Nghĩa 2, xã Ngọc L, huyện Yên Th, tỉnh Hoà Bình) mua ngày 29/3/2019 tại Công ty ô tô – xe máy Thọ H có trụ sở tại số nhà 10, phố Nguyễn Văn Tr, thị trấn Đồng V, huyện Duy T, tỉnh Hà Nam với giá 36.800.000 đồng, đã trả trước cho công ty số tiền 3.800.000 đồng. Đồng thời, chị M đã ký hợp đồng trả góp với Công ty Tài chính trách nhiệm một thành viên Ngân hàng Thịnh V trong thời hạn 02 năm theo Hợp đồng số 20190329- 8969716 ngày 29/3/2019. Đến nay, chị M mới thanh toán cho Công ty Tài chính trách nhiệm một thành viên Ngân hàng Thịnh V 01 lần số tiền 2.240.000 đồng và chưa làm thủ tục thanh lý hợp đồng. Theo Ch khai, chị M là bạn gái Ch, khoảng tháng 6/2019 chị M cầm cố chiếc xe 17B7-378.82 và nhờ Ch đi chuộc chiếc xe mô tô này, khi nào chị M lấy xe sẽ trả tiền cho Ch. Sau đó, Ch liên lạc với chị M nhưng không được nên vẫn sử dụng chiếc xe mô tô này. Cơ quan CSĐT đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa làm việc được với chị Nguyễn Thị M. Do đó, đã tách chiếc xe mô tô BKS 17B7-378.82 và chùm chìa khoá xe mô tô để tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 06/02/2020, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 6 đến 7 năm tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết; về vật chứng: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Ch: 01 chứng minh thư; 01 giấy phép lái xe; số tiền 1.700.000đ. Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dày; 01 khẩu trang y tế và tuyên án phí đối với bị cáo.

Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt ngoài ra không tranh luận gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an thị xã Duy Tiên và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Để có tiền tiêu xài cá nhân nên sáng ngày 05/11/2019, tại khu vực đường thôn Đồng V, thị trấn Đồng V, huyện Duy T, tỉnh Hà Nam, phát hiện bà Nguyễn Thị Đ đang đi bộ ngược chiều, trên cổ đeo 01 sợi dây chuyền có khối lượng 4,99 chỉ và mặt dây chuyền có khối lượng 01 chỉ đều là vàng loại 9999, có tổng giá trị là 24.936.000 đồng, Nguyễn Văn Ch điều khiển xe mô tô 17B7-378.82 áp sát bà Đ, tay trái giật sợi dây chuyền vàng trên cổ bà Đ làm dây chuyền của bà Đ tuột khỏi cổ, mặt dây chuyền rơi xuống đường. Ch cầm sợi dây chuyền của bà Đ ở tay trái và điều khiển xe mô tô 17B7 – 378.82 bỏ chạy về phía chợ Đồng Văn. Sau đó, Ch đem bán sợi dây chuyền cho ông Nguyễn Văn H chủ hiệu vàng Kim G thuộc thôn Nội H, xã Nam Ph, huyện Phú X, thành phố Hà N được số tiền 19.960.000 đồng, Ch đã tiêu xài cá nhân hết 18.260.000 đồng. Đến ngày 12/11/2019, Ch bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Duy Tiên bắt giữ và thu giữ số tiền còn lại là 1.700.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo điều khiển xe môtô để cướp giật tài sản của người khác; trong khi bị cáo đang có tiền án về tội rất nghiêm trọng đủ yếu tố cấu thành tội Cướp giật tài sản với tình tiết định khung “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” và “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, không phải chịu tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; người thân của bị cáo đã bồi thường cho người bị hại; được người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ nhận định trên xét thấy mặc dù đã nhiều lần bị kết án nhưng chưa được xóa án tích bị cáo lại phạm tội mới thể hiện ý thức tu dưỡng rèn luyện không tốt vì thế cần ấn định mức hình phạt nghiêm khắc cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp thực tế.

[5] Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận tiền bồi thường nay không có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết. Đối với anh Nguyễn Văn S đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại số tiền 19.000.000đ, nay không có ý kiến gì nên không đặt ra giải quyết.

[6] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 miếng kim loại vàng do bà Nguyễn Thị Đ giao nộp đã trả lại cho bà Đ. Đối với: 01 xe môtô Vision BKS 17B7- 378.82 và 01 chùm chìa khóa được đăng ký mang tên chị Nguyễn Thị M sinh năm 1993, nguyên quán: Hoa Th, xã Quang B, huyện Kiến X, tỉnh Thái Bình (hiện đã chuyển về cư trú tại thôn Nghĩa 2, xã Ngọc L, huyện Yên Th, tỉnh Hoà Bình), quá trình điều tra chưa làm việc được với chị M nên cơ quan điều tra tách ra giải quyết sau là đúng. Đối với: 01 chứng minh thư; 01 giấy phép lái xe; số tiền: 1.700.000đ thu giữ của bị cáo tuy nhiên bị cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường nên cần trả lại cho bị cáo. Đối với: 01 đôi giầy; 01 khẩu trang y tế cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí hình sự: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật. Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

 Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ch phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt Nguyễn Văn Ch 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/11/2019.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi giầy; 01 khẩu trang y tế;

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Ch: 01 chứng minh thư; 01 giấy phép lái xe; số tiền 1.700.000đ (Một triệu bẩy trăm ngàn đồng).

(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an huyện Duy Tiên và Thi hành án dân sự huyện Duy Tiên ngày 07/2/2020).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội bị cáo Nguyễn Văn Ch phải nộp: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./


10
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 29/2020/HSST ngày 27/05/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:29/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Duy Tiên - Hà Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về