Bản án 29/2019/HNGĐ-ST ngày 05/11/2019 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 29/2019/HNGĐ-ST NGÀY 05/11/2019 VỀ LY HÔN

Trong ngày 05 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở TAND huyện Phú Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 211/2019/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 9 năm 2019 về việc kiện ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2019/QĐXX-ST ngày 18 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2019/QĐST-DS ngày 28/10/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1994

HKTT và trú tại: Thôn D, xã H, huyện T, Thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Anh Lê Minh T, sinh năm 1991

HKTT và trú tại: Thôn Kh, xã T, huyện X, Thành phố Hà Nội

Chị Nhàn có mặt, anh Tuyên vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn và những lời khai tại Toà, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Nh trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Nh và anh Lê Minh T tự nguyện kết hôn vào ngày 21/6/2018, nhưng không tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi đăng ký kết hôn xong thì cả hai lại chung sống với nhau ngay. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, mỗi người có một quan điểm lối sống khác nhau, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã ly thân gần 01 năm nay không còn quan hệ gì. Nhận thấy tình cảm không còn, hạnh phúc không có, chị đề nghị được ly hôn anh T.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Bảo N, sinh ngày 03/02/2018. Ly hôn chị Nh xin được nuôi cháu N, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về công nợ: Không nợ lần gì ai.

Về phía anh Lê Minh T:

Quá trình giải quyết vụ án, anh T không đến Tòa làm việc, nên Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã Phúc Tiến và làm việc với bà Lê Thị U (Mẹ đẻ anh T). Qua xác minh cho thấy anh T vẫn có hộ khẩu thường trú tại thôn An Khoái, xã Phúc Tiến, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội, nhưng thời điểm giải quyết vụ án không có mặt tại địa phương, anh T vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình ở thôn An Khoái, xã Phúc Tiến, huyện Phú Xuyên. Vì vậy, Toà án đã nhờ mẹ đẻ anh T là bà Lê Thị U tống đạt giúp các văn bản tố tụng của Tòa án gồm: Giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa.

Mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, phía bà Lê Thị Uyên (là mẹ đẻ anh T) cũng khẳng định đã liên hệ và thông báo lại cho anh Tuyên nội dung các văn bản tố tụng của Tòa án về việc giải quyết ly hôn nhưng anh Tuyên cố tình không đến Tòa làm việc, nên không rõ quan điểm của anh Tuyên.

Tại phiên toà: Chị Nguyễn Thị Nh vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình.

Đại diện VKSND huyện Phú Xuyên tham gia phiên toà phát biểu về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về thủ tục tố tụng của Pháp luật TTDS trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tố tụng của mình.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Nh; giao con chung là cháu Lê Bảo N, sinh ngày 03/02/2018 cho chị Nh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, tạm miễn việc góp phí tổn nuôi con cho T và không xem xét quan hệ tài sản chung vợ chồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: Mặc dù vào thời điểm Tòa án tiến hành giải quyết vụ án, anh Tuyên không có mặt tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú là thôn An Khoái, xã Phúc Tiến, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội; song quá trình Tòa án thu thập chứng cứ thông qua xác minh tại UBND xã Phúc Tiến và làm việc với bà Lê Thị U (là mẹ đẻ anh T), cho thấy anh T vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, Tòa án đã nhiều lần triệu tập và giao các văn bản tố tụng cho anh T thông qua mẹ đẻ anh T là bà U, bà U cũng khẳng định đã thông báo lại cho anh Tuyên giấy triệu tập và các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn không thấy anh Tuyên đến Tòa làm việc, nên bị coi là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ và cố tình không đến Tòa làm việc; vì vậy, không cần sự có mặt của anh T; Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Về hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Thị N và anh Lê Minh T, tuy là cuộc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phúc Tiến, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội, thời gian chung sống với nhau chẳng được bao nhiêu, sau đó cả hai không chung sống với nhau nữa, bằng việc chị Nh bỏ về gia đình nhà đẻ ở là một bằng chứng nói lên quan hệ hôn nhân giữa chị Nh và anh T tuy không rõ nguyên nhân từ đâu, song đã ẩn chứa những mâu thuẫn, bất đồng hết sức nghiêm trọng.

Do thời gian ly thân đã gần 01 năm, mọi níu kéo trở nên vô vọng, tình cảm vợ chồng không còn, phía chị Nh quyết định xin ly hôn anh T. Quá trình tố tụng, việc anh T cố tình không chịu đến tòa làm việc không chỉ thể hiện thái độ không tôn trọng cơ quan tố tụng mà ở một góc độ khác còn thể hiện ý thức không mong muốn hòa giải đoàn tụ vợ chồng.

Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nh và anh T đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân là hạnh phúc gia đình, nhưng không đạt được, hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức, không còn ý nghĩa. Vì vậy, yêu cầu của chị Nhàn xin ly hôn anh T là có cơ sở, nên áp dụng các quy định tại các Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 39 của Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Nh, cho chị Nh được ly hôn với anh T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Bảo N, sinh ngày 03/2/2018. Do anh T hiện không có mặt tại địa phương, hơn nữa theo quy định của Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, thì con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nên giao con chung cho chị Nh trực tiếp nuôi dưỡng và tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T.

Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án do anh T không đến Tòa làm việc, nên chưa có đầy đủ căn cứ xác định được tài sản chung, công nợ chung của vợ chồng. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt nên phần tài sản, công nợ của vợ chồng, cần tách ra chưa xét trong vụ án này và sẽ được giải quyết trong vụ án khác nếu có tranh chấp phát sinh .

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Nhàn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 39 BLDS; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Nh được ly hôn anh Lê Minh T.

2. Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị Nhàn trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Bảo Nam, sinh ngày 03/02/2018. Tạm miễn việc góp phí tổn nuôi con cho Tuyên đến khi chị Nh có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Nh phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào khoản tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên thu tạm ứng án phí số AE/2010/0005520 ngày 26/9/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên. Chị Nh đã nộp đủ án phí án phí ly hôn sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú.


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 29/2019/HNGĐ-ST ngày 05/11/2019 về ly hôn

Số hiệu:29/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Xuyên - Hà Nội
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:05/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về