Bản án 29/2019/DS-ST ngày 21/10/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 29/2019/DS-ST NGÀY 21/10/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 21 tháng 10 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 269/2019/TLST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2019/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2019/QĐST-DS ngày 09/9/2019 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 09/TB -TA ngày 27/9/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V (V).

Địa chỉ: Tầng 2, tòa nhà Ree, số 09 Đ, phường 12, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lô Bằng G. Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Người đại diện theo ủy quyền của ông G: chị Phạm Thị Mỹ H. Chức vụ: Trưởng nhóm tố tụng – phòng thu hồi nợ pháp lý – trung tâm thu hồi nợ - công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn MTV ngân hàng V (theo văn bản ủy quyền số 80/UQ-VH.18 ngày 13/6/2018)

Người đại diện theo ủy quyền của chị H: Anh Hà Duy T, sinh năm 1994.

Địa chỉ: 48 N, phường Đ, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. (Theo văn bản ủy quyền ngày 30/5/2019).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Duy L, sinh năm 1978.

Nơi cư trú: Hộ ông Phạm Văn H, khu C, ấp P, xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

(Anh T và anh L vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 30/5/2019 và các lời khai tại hồ sơ, nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V do anh Hà Duy T đại diện trình bày: Ngày 30/3/2016, Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V (sau đây gọi tắt là Ngân hàng V) có ký hợp đồng tín dụng số 20160402-500000-0078 với anh Nguyễn Duy L. Nội dung hợp đồng là nguyên đơn cấp tín dụng cho anh L với số tiền là 29.540.000đ đồng, lãi suất thỏa thuận là 3.75%/tháng, mục đích vay là để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, anh L có trách nhiệm trả góp cho nguyên đơn trong 24 tháng, mỗi tháng trả gốc và lãi là 1.889.000đ, tháng cuối cùng trả 1.858.000đ, cụ thể số tiền gốc và lãi phải thanh toán được thể hiện theo bảng kế hoạch trả nợ kèm theo hợp đồng tín dụng. Ngân hàng V đã giải ngân cho anh L số tiền trên ngày 05/4/2016. Thời hạn bắt đầu trả nợ của anh L tính từ ngày 05/5/2016. Khi cho vay hai bên không cầm cố hoặc thế chấp tài sản để đảm bảo thanh toán nợ.

Sau khi ký hợp đồng tín dụng vay số tiền nêu trên, anh L đã trả nợ cho Ngân hàng 09 lần với tổng số tiền đã trả là 18.640.000đ, gồm nợ gốc là 12.455.550đồng và nợ lãi là 6.154.450đồng. Từ ngày 08/02/2018 cho đến nay anh L không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền cho nguyên đơn Ngân hàng V. Do đó, nguyên đơn Ngân hàng V khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Duy L có trách nhiệm thanh toán số tiền gốc còn lại là 17.084.450 đồng và tiền lãi là 9.580.550 đồng. Tổng cộng gốc lãi là 26.665.000đ và tiền lãi chậm thanh toán phát sinh kể từ khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Bị đơn anh Nguyễn Duy L vắng mặt, không đến Tòa cung cấp chứng cứ và tham gia tố tụng giải quyết vụ án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả tiền vay tổng cộng gốc lãi là 26.665.000đ và lãi chậm thanh toán phát sinh kể từ khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng V do anh Hà Duy Thái đại diện theo ủy quyền vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Duy L vắng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn Ngân hàng V và bị đơn anh Nguyễn Duy L.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng V khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Duy L thanh toán số tiền vay theo hợp đồng tín dụng nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng V:

n cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Ngày 30/3/2016, Ngân hàng V có ký hợp đồng tín dụng số 20160402 – 5000000078 với anh Nguyễn Duy L. Nội dung hợp đồng là nguyên đơn Ngân hàng V cấp tín dụng cho anh L vay với số tiền là 29.540.000 đồng gồm khoản vay 28.000.000đ, phí bảo hiểm là 1.540.000đ, lãi suất thỏa thuận là 3.75%/tháng, mục đích vay là để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, anh L có trách nhiệm trả góp cho nguyên đơn trong 24 tháng, mỗi tháng trả gốc và lãi là 1.889.000đ, tháng cuối cùng trả 1.858.000đ, cụ thể số tiền gốc và lãi phải thanh toán được thể hiện theo bảng kế hoạch trả nợ kèm theo hợp đồng tín dụng. Ngân hàng đã giải ngân cho anh L số tiền 28.000.000đ vào ngày 05/4/2016. Thời hạn bắt đầu trả nợ của anh L tính từ ngày 05/5/2016. Khi cho vay hai bên không cầm cố hoặc thế chấp tài sản để đảm bảo thanh toán nợ.

Thc hiện hợp đồng, bị đơn anh L đã trả cho nguyên đơn được 09 lần với số tiền là 18.640.000đ, gồm nợ gốc là 12.455.550 đồng và nợ lãi là 6.154.450 đồng. Từ ngày 08/02/2018 cho đến nay anh L không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền cho nguyên đơn là vi phạm thỏa thuận tại khoản 3, Điều IV, phần B của Hợp đồng tín dụng ngày 30/3/2016. Việc anh L không thực hiện đúng nội dung thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng là ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng V. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng V, buộc anh Nguyễn Duy L phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng V số tiền nợ gốc 17.084.450 đồng và tiền lãi là 9.580.550 đồng. Tổng cộng gốc lãi là 26.665.000đ.

[4] Đối với nghĩa vụ chậm thi hành án tiền vay do tổ chức tín dụng cho vay được áp dụng theo Án lệ số 08/2016/AL của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/8/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐ.CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân Tối Cao để tính lãi chậm trả.

[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn anh Nguyễn Duy L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.333.000đ.

Hoàn trả cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp nộp là 666.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai số 0000839 ngày 27/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Đồng Nai.

[6] Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện N về việc đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

n cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 471, 474 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Án lệ số 08/2016/AL của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao thông qua ngày 17/8/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐ.CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân Tối Cao.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V đối với bị đơn anh Nguyễn Duy L về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Xử buộc anh Nguyễn Duy L phải thanh toán cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi là 26.665.000đ (Hai mươi sáu triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn đồng). Trong đó, tiền nợ gốc là 17.084.450 đồng (Mười bảy triệu không trăm tám mươi bốn nghìn bốn trăm năm mươi đồng) và tiền lãi là 9.580.550 đồng (Chín triệu năm trăm tám mươi nghìn năm trăm năm mươi đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, anh Nguyễn Duy L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Duy L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 1.333.000đ (Một triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng).

Hoàn trả cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 666.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai số 0000839 ngày 27/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Trưng hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.


43
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về