Bản án 29/2018/HS-ST ngày 31/05/2018 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 29/2018/HS-ST NGÀY 31/05/2018 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 31 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2018/TLST- HS ngày 24 tháng 4 năm 2018 (Sau đây viết tắt là: 24/4/2018) theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2018/QĐXXST-HS ngày 18/5/2018, đối với bị cáo:

Trần Đức D, sinh năm 1983 tại Hà Nam; nơi cư trú: Xóm 15, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức T (đã chết) và bà Trần Thị T; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: ngày 23/11/2012, Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Hà Nam xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản bị tạm giữ từ ngày 16/12/2017 và chuyển tạm giam từ ngày 22/12/2017 đến nay; có mặt.

- Bị hại:

+ Cháu Nguyễn Minh T, sinh ngày 13/9/2002; nơi cư trú: Xóm 7, xã T, huyện L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

+ Người đại diện hợp pháp đồng thời là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu Nguyễn Minh T: Chị Trần Thị N, sinh năm 1977; nơi cư trú: Xóm 7, xã T, huyện L, tỉnh Hà Nam - Là mẹ đẻ cháu T; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Trần Thị Á, sinh năm 1982; nơi cư trú: Xóm 16, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; có mặt.

+ Anh Trần Bá T, sinh năm 1983; nơi cư trú: Xóm 16, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng: Anh Lưu Quang T; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 10 phút ngày 15/12/2017, Trần Đức D điều khiển xe môtô, đeo biển kiểm soát 29A6-0139 trên đường bê tông liên thôn thuộc địa phận xóm 9, xã T, huyện L, tỉnh Hà Nam, phát hiện phía trước có cháu Nguyễn Minh T (sinh ngày 13/9/2002) đang điều khiển xe đạp điện đi cùng chiều, tay trái đang cầm điện thoại nghe máy, D nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại này. D điều khiển xe môtô áp sát bên trái xe cháu T rồi dùng tay phải giật chiếc điện thoại cháu T đang cầm sau đó tăng ga bỏ trốn, cháu T bị ngã nhưng không bị thương. Sau đó, D đã mang chiếc điện thoại này đến cửa hàng điện thoại “Toàn Mơ” của anh Trần Bá T ở xóm 16, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam thì biết đây là chiếc điện thoại Oppo A37, D thuê anh T phá mã bảo vệ, anh T hẹn chiều đến lấy, D đồng ý và vay của anh T 200.000 đồng đi xuống thành phố Nam Định chơi. Trên đường đi đến khu vực cầu Phao thuộc xóm 6, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam, D đã vứt chiếc ốp lưng, sim điện thoại của cháu T và chiếc mũ bảo hiểm D đội để đi cướp giật xuống sông Châu Giang (Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy).

Cháu Nguyễn Minh T và gia đình đã trình báo Công an huyện L.

Cùng ngày 15/12/2017, anh Trần Bá T tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại Oppo A37; Trần Đức D tự nguyện giao nộp 01 xe môtô, đeo biển kiểm soát 29A6-0139 có số khung RLHHC 09093Y169548, số máy HC09E-0169645.

- Ngày 16/12/2017, Trần Đức D bị bắt khẩn cấp theo lệnh của Công an huyện L, tỉnh Hà Nam.

- Khám xét khẩn cấp nhà Trần Đức D thu giữ: 01 áo khoác dài tay đã cũ có dòng chữ THE NORTH FACE và 01 quần bò màu xanh đen.

* Tại biên bản định giá tài sản số 34/BB-ĐGTS ngày 20/12/2017 của hội đồng định giá tài sản huyện L, tỉnh Hà Nam kết luận: “01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại máy A37 có số IMEI 1: 865262038634770; số IMEI 2: 865262038634762...có giá trị là 2.565.000 đồng”.

*Công an huyện L đã trả lại cho cháu T01 chiếc điện thoại Oppo A37, cháu T và người đại diện không có yêu cầu bồi thường thiệt hại.

*Anh Trần Bá T không yêu cầu Trần Đức D trả lại số tiền 200.000 đồng mà anh T cho D vay trước đó.

* Quá trình điều tra Trần Đức D đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện

Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKSLN ngày 20/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Hà Nam đã truy tố Trần Đức D về tội “Cướp giật tài sản”, theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999.

* Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý N luận tội: giữ nguyên quan điểm kết tội đối với bị cáo như cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích, đánh giá toàn diện vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là: HĐXX): áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm h khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Trần Đức D từ 42 tháng đến 48 tháng tù; không áp dụng phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo; không xác định trách nhiệm bồi thường dân sự do tài sản chiếm đoạt đã được thu giữ trả lại cho bị hại và bị hại không có yêu cầu gì bổ sung. Đồng thời, đề xuất hướng xử lý vật chứng hiện đang thu giữ.

- Bị cáo Trần Đức D đã thừa nhận nội dung cáo trạng là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, đồng thời khai nhận cụ thể về thời gian, địa điểm và diễn biến toàn bộ hành vi sử dụng xe mô tô cướp giật chiếc điện thoại Oppo A37 của cháu Nguyễn Minh T vào sáng ngày 15/12/2017. Bị cáo không có ý kiến tranh luận hay bào chữa gì đối với cáo buộc của Viện kiểm sát, bản thân đã nhận thức rõ sai phạm, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo không có ý kiến gì đối với các quyết định, hành vi tố tụng, kết luận định giá, các văn bản tố tụng hình sự, cũng như lời khai của những người tham gia tố tụng trong vụ án.

- Chị Trần Thị Á trình bày: chiếc xe môtô, đeo biển kiểm soát 29A6-0139 mà D đã sử dụng để cướp giật trong vụ án là xe chị mua cách đây 5 năm, nhưng chị không xuất trình được giấy tờ mua bán xe. Chị không biết mục đích D mượn chiếc xe này để thực hiện tội phạm. Mặt khác, đến nay chị mới biết chiếc biển kiểm soát đeo trên xe không đúng với số khung, số máy của chiếc xe này, xe cũng đã cũ, nên chị không có ý kiến xin lại xe.

- Anh Trần Bá T trình bày: Sáng ngày 15/12/2017, D có mang đến cửa hàng điện thoại của anh nhờ anh phá mã bảo vệ của chiếc điện thoại di động Oppo A37. Anh hoàn toàn không biết nguồn gốc của chiếc điện thoại này. Sau đó, anh có cho D vay số tiền 200.000đ, đến nay anh cũng không đề nghị D trả lại số tiền trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cũng như chính lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra về toàn bộ nội dung vụ án. Phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ án, vật chứng đã thu giữ, biên bản định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập theo trình tự luật định, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý và thực tiễn kết luận: Khoảng 08 giờ 10 phút ngày 15/12/2017, tại đường bê tông liên thôn thuộc địa phận xóm 9, xã T, huyện L, tỉnh Hà Nam, Trần Đức D điều khiển xe môtô đeo biển kiểm soát 29A6-0139 áp sát bên trái cháu Nguyễn Minh T (sinh ngày 13/9/2002) đang điều khiển xe đạp điện đi phía trước cùng chiều, rồi dùng tay phải giật chiếc điện thoại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A37 trị giá 2.565.000 đồng của cháu T đang cầm trên tay trái, sau đó tăng ga bỏ trốn, đến ngày 16/12/2017 thì bị bắt.

Hành vi nêu trên của Trần Đức D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” , tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999.

Quan điểm kết tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phù hợp với Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT ngày 25/12/2001 của TANDTC- VKSNDTC-BCA-BTP quy định về tình tiết “dùng thủ đoạn nguy hiểm” đối với tội Cướp giật tài sản.

[2] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của Trần Đức D thể hiện tính nguy hiểm cao cho xã hội, với tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi này không những đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân mà còn đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của bị hại, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự- an toàn xã hội trên địa bàn huyện L, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong nhân dân và bức xúc mạnh mẽ trong dư luận xã hội.

Bị cáo là người có nhân thân xấu, trước đó vào năm 2012 đã bị kết án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (đã được xóa án tích) nhưng vẫn không lấy đó làm bài học kinh nghiệm để sửa chữa bản thân, lao động xây dựng cuộc sống. Để có tiền tiêu xài cá nhân đã sử dụng thủ đoạn liều lĩnh, nguy hiểm, trắng trợn nhằm vào trẻ em đang tham gia giao thông để chiếm đoạt tài sản, tiếp tục phạm tội với tính chất nghiêm trọng hơn, làm xã hội mất ổn định,

Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét yếu tố nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly các bị cáo với xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân lương thiện, cũng như đáp ứng yêu cầu phòng ngừa tội phạm chung trong cộng đồng hiện nay.

- Tình tiết tăng nặng: Khi bị cướp giật chiếc điện thoại, cháu Nguyễn Minh T được 15 tuổi 03 tháng 02 ngày, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội đối với trẻ em theo điểm h khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999.

- Tình tiết giảm nhẹ: Các giai đoạn tố tụng trước đó cũng như tại phiên tòa bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bản thân, đồng thời phần nào thể hiện sự ăn năn hối cải trước pháp luật; bị cáo là người có trình độ văn hóa thấp (01/12) nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nêu trên sẽ được đánh giá, xem xét tổng hòa với tính chất, mức độ chung của vụ án để ấn định mức hình phạt tù cho phù hợp, đảm bảo đạt lý, thấu tình, cũng như thấy được chính sách khoan hồng và tính hướng thiện của pháp luật đối với người phạm tội.

Xét thấy cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án, nên Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.

- Hình phạt bổ sung: xét bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, chưa có vợ, con đang ở cùng với gia đình, điều kiện kinh tế còn khó khăn, không có tài sản. Do đó, không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) đối với bị cáo.

[3] Về trách nhiệm dân sự:

+ Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường đối với chiếc ốp lưng, sim điện thoại của cháu T (do bị cáo đã vứt đi), nên HĐXX không đặt ra xem xét.

+ Anh Trần Bá T không yêu cầu Trần Đức D phải trả lại số tiền 200.000 đồng mà anh đã cho D vay trước đó, do đó HĐXX không xem xét.

[4] Về xử lý vật chứng:

+ Đối với chiếc xe mô tô đeo biển kiểm soát 29A6-0139, có số khung RLHHC 09093Y169548 và số máy HC09E-0169645. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa HĐXX xác định: chiếc xe này do chị Trần Thị Á (chị gái ruột D) mua cách đây 5 năm, nhưng chị không xuất trình được giấy tờ mua bán xe. Đến nay chị mới biết chiếc biển kiểm soát đeo trên xe không đúng với số khung, số máy của chiếc xe này, xe cũng đã cũ, nên chị không có ý kiến trả lại xe (như tại bút lục số 67). Do đó, tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước chiếc xe mô tô này.

+ Đối với chiếc biển kiểm soát 29A6-0139 (đeo trên xe mô tô) như đã phân tích: chiếc biển kiểm soát này không đúng với số khung, số máy của chiếc xe mô tô trên. Xét không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu và tiêu hủy chiếc biển kiểm soát này.

+ Đối với 01 chiếc áo phao khoác dài tay màu ghi và 01 quần bò màu xanh đen thu giữ tại nhà Trần Đức D (đều đã cũ, qua sử dụng). Quá trình điều tra xác định: đây là tài sản của D, bị cáo không đề nghị nhận lại, nên tịch thu và tiêu hủy là phù hợp.

[5] Về tỉnh hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong các giai đoạn tố tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc tố tụng cũng như đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao theo quy định.

[6] Về vấn đề khác:

Chị Trần Thị Á là người cho Trần Đức D mượn chiếc xe mô tô trên để sử dụng, nhưng không biết mục đích D mượn xe để thực hiện tội phạm và anh Trần Bá T người đã nhận phá mã bảo vệ chiếc điện thoại Oppo A37, nhưng không biết đây là tài sản do D phạm tội mà có, nên không có căn cứ để xử lý đối với chị Á và anh T trong vụ án là phù hợp.

[7] Án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

[8] Quyền kháng cáo: bị cáo; bị hại và người đại diện hợp pháp, đồng thời là người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136; điểm p khoản 1 Điều 46; khoản 2- Điều 46; điểm h khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999:

Tuyên bố: bị cáo Trần Đức D phạm tội “Cướp giật tài sản”

Xử phạt; bị cáo Trần Đức D 45 (bốn mươi lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/12/2017.

[2] Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước\ 01 xe môtô, dán nhãn Wave Anpha, màu xanh ghi; số khung RLHHC 09093Y169548; số máy HC09E-0169645.

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 chiếc áo khoác, loại áo phao màu ghi, phía trước ngực bên phải có dòng chữ THE NORTH FACE; 01 chiếc quần dài, loại quần bò màu xám đen và 01 chiếc biển kiểm soát 29A6-0139 (đeo trên chiếc xe mô tô đã tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước).

 (Các vật chứng nêu trên có đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 27/4/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện L và Chi cục thi hành án dân sự huyện L).

[4] Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Đức D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

- Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp, đồng thời là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


133
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 29/2018/HS-ST ngày 31/05/2018 về tội cướp giật tài sản

Số hiệu:29/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lý Nhân - Hà Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:31/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về