Bản án 29/2018/HS-ST ngày 16/08/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI

BẢN ÁN 29/2018/HS-ST NGÀY 16/08/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 16 tháng 8 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2018/TLST- HS ngày 19/7/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2018/QđXXST- HS ngày 03 tháng 8 năm 2018, đối với bị cáo:

Vũ Kiên C (Tên gọi khác: Vũ Văn S), sinh ngày 29 tháng 7 năm 1970 tại TQ; Nơi cư trú: Thôn D, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Kim V, sinh năm 1937 và con bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1941; Có vợ Lương Thị B, sinh năm 1972, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2004; Tiền sự: Có 01 tiền sự, ngày 08/12/2017 bị Công an xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đồng về hành vi trộm cắp tài sản, đến nay chưa thi hành; Tiền án: Không; Nhân thân: Năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong hình phạt năm 2015; bị bắt tạm giam ngày 07-5-2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái. Có mặt.

- Người bị hại: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963 và ông đặng Văn H, sinh năm 1959 - cùng trú tại: Thôn H 1, xã H, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. đều vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: đặng Văn Ch, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Thôn đ 2, xã Y, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Thị T – sinh năm 1977

2. Nguyễn Ngọc Ch – sinh năm 1970

Cùng trú tại: Thôn đ 2, xã Y, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. đều vắng mặt.

3. Nguyễn Trung Th – sinh năm 1983

Trú tại thôn P, xã V, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 05-3-2018, đặng Văn Ch mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda SCR của anh Nguyễn Trung Th, khi đến khu vực cầu Bỗng thuộc thôn đ 1, xã Y gặp anh Trần Trung H, C mượn anh H bộ dụng cụ bắn điện tự chế. Sau đó Ch đi đến nhà Vũ Kiên C rủ C đi bắt trộm chó lấy tiền tiêu xài, C đồng ý. C cầm lái điều khiển chiếc xe mô tô còn Ch ngồi phía sau cầm dụng cụ bắn điện. Khoảng 16 giờ cùng ngày, khi đến bờ đập thuộc thôn H 1, xã H, thấy một con chó màu vàng, trọng lượng khoảng 15kg của gia đình bà Nguyễn Thị L, sau khi quan sát xung quanh không có ai, C điều khiển xe mô tô đi đến gần con chó, Ch dùng dụng cụ bắn điện tự chế bắn vào con chó làm con chó ngã ra đất. Ch và C xuống xe, Ch dùng băng dính nilon quấn quanh mõm con chó, C nhấc con chó cho vào cốp xe mô tô. Sau đó, Ch và C mang con chó bán cho chị Nguyễn Thị T tại thôn đ 2, xã Y, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, được 16kg với giá 800.000đồng. Số tiền bán chó Ch và C trả tiền mua xăng 50.000đồng và cùng nhau tiêu xài 150.000đồng. Sau đó cả hai tiếp tục đi đến xã H, huyện Yên Bình để bắt trộm chó, khi đến khu vực thôn A 4, xã H thì bị nhân dân phát hiện bắt giữ cùng chiếc xe mô tô, bộ dụng cụ bắn điện tự chế và số tiền 300.000 đồng là tiền bán chó. Quá trình bị bắt giữ, Ch đã làm rơi mất 300.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản ngày 22/4/2018 kết luận: Con chó do đặng VănCh và Vũ Kiên C trộm cắp ngày 05/3/2018 có giá trị là 960.000đồng. Bản cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 18 tháng 7 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái đã truy tố bị cáo Vũ Kiên C về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Kiên C phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng điểm a khoản 1 điều 173, điểm h, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vũ Kiên C (Vũ Văn S) từ 09 đến 12 tháng tù. Xử lý vật chứng và tuyên án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Vũ Kiên C khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Bình, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc thu thập các tài liệu, chứng cứ trong vụ án đã đầy đủ, đảm bảo hợp pháp, khách quan.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Kiên C: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 16 giờ ngày 05/3/2018 Vũ Kiên C cùng đặng Văn Ch đã trộm cắp của gia đình bà Nguyễn Thị L-ông đặng Văn H một con chó có trọng lượng 16kg trị giá 960.000đồng.Vũ Kiên C đã có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, vì vậy hành vi nêu trên của Vũ Kiên C đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần có hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người lương thiện và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:

Bị cáo Vũ Kiên C là người có nhân thân xấu, ngày 08/12/2017 bị cáo bị Công an xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang xử phạt hành chính phạt 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, đến nay bị cáo chưa thi hành; Năm 2012, Vũ Kiên C đã bị Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thể hiện ý thức tu dưỡng, rèn luyện, chấp hành pháp luật của bị cáo là rất kém.

Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Vũ Kiên C là đối tượng nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp, không có tài sản. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: đặng Văn Ch đã bồi thường số tiền 1.500.000 đồng cho người bị hại. Người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Tại phiên tòa đặng Văn Ch không yêu cầu Vũ Kiên C phải hoàn trả cho Ch phần của C trong số tiền Ch đã bồi thường cho bị hại. Do đó HđXX không xét.

[7] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ trong vụ án:

- đối với các tài sản cơ quan điều tra thu giữ và đã trả lại trong quá trình điều tra HđXX không xem xét.

- đối với 01 bình ắc quy cũ đã qua sử dụng và 01 súng bắn kích điện, có hai mũi tên nhọn bằng kim loại là công cụ bị cáo dùng để trộm cắp tài sản nên cần tịch thu tiêu hủy.

- đối với số tiền 300.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thu giữ của đặng Văn Ch, xét đây là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

[8] đối với đặng Văn Ch là người cùng bị cáo Vũ Kiên C thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng giá trị tài sản trộm cắp dưới hai triệu đồng, đặng Văn Ch không có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản nên không cấu thành tội phạm. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với đặng Văn Ch là phù hợp với quy định của pháp luật.

[9] đối với Nguyễn Trung Th là người đã cho đặng Văn Ch mượn xe mô tô; Nguyễn Thị T là người mua tài sản mà Ch và C trộm cắp được: Do những người này không biết việc Ch và C trộm cắp tài sản nên cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp. Trần Trung H là người đã cho đặng Văn Ch mượn bộ dụng cụ bắn điện tự chế hiện H không có mặt tại địa phương nên không điều tra làm rõ được.

[10] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Kiên C (tên gọi khác: Vũ Văn S) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 173, điểm h, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vũ Kiên C (Vũ Văn S) 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam bị cáo 07/5/2018.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23 tháng 7 năm 2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái như sau:

- Tịch thu tiêu hủy: 01(Một) bình ắc quy cũ đã qua sử dụng; 01(Một) súng bắn kích điện, có hai mũi tên nhọn bằng kim loại.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng thu giữ của đặng Văn Ch được niêm phong trong 01 phong bì do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành.

4. Về án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Vũ Kiên C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Vũ Kiên C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại Nguyễn Thị L và đặng Văn H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đặng Văn Ch có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 29/2018/HS-ST ngày 16/08/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:29/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Bình - Yên Bái
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 16/08/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về