Bản án 29/2018/HS-ST ngày 13/03/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 29/2018/HS-ST NGÀY 13/03/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 13 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2018/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2018/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:

Hoàng Công A, (tên gọi khác: Nguyễn Duy T) sinh năm 1993

Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn Đ, xã N, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Công D và bà Hà Thị S; Vợ, con: Chưa; tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 04/02/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/01/2016. Chưa được xóa án tích.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 24/10/2017 đến ngày 02/11/2017.

Bị cáo hiện tại ngoại tại thôn Đ, xã N, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội

Có mặt tại phiên tòa.

* Nguyên đơn dân sự: Công ty Cổ phần X.

Địa chỉ: thôn N, xã N, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật : Ông Nguyễn Sỹ T, sinh năm 1956

Chức vụ : Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần X.

Người đại diện theo ủy quyền : Ông Đỗ Phú H, sinh năm 1960

Chức vụ: Phó Trưởng Phòng Kinh tế  - Hành chính – Tổng hợp Công ty Cổ phần X.

Cư trú tại : Số nhà 01, huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội.

Ông Đỗ Phú H có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi và N vụ liên quan

1. Anh Nguyễn Bá C, sinh năm 1968. Vắng mặt.

2. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1970. Vắng mặt.

Đều cư trú tại: thôn N, xã N, huyện Chương Mỹ, Thành Phố Hà Nội.

* Người làm chứng :

1. Ông Đinh Mạnh T, sinh năm 1960. Vắng mặt.

Cư trú tại: thôn N, xã N, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

2. Ông Nguyễn Duy D, sinh năm 1964. Vắng mặt.

Cư trú tại: thôn N, xã N, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

3. Anh Trương Tuấn T, sinh năm 1984. Vắng mặt.

Cư trú tại : thôn N, xã N, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

4. Anh Nguyễn Quyết H, sinh năm 1986. Vắng mặt.

Cư trú tại : thôn N, xã N, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội.

5. Anh Lê Văn D, sinh năm 1988. Vắng mặt.

Cư trú tại : thôn N, xã N, huyện Chương Mỹ,TP Hà Nội.

6. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1984. Vắng mặt.

Cư trú tại : thôn N, xã N, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 23/10/2017, Hoàng Công A (tên gọi khác là Nguyễn Duy T) đến nhà anh Nguyễn Đình L (tức Tư) ở cùng thôn Đ, xã N, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội chơi. Tại đây, Hoàng Công A gặp vợ chồng Nguyễn Bá C và Nguyễn Thị N đều cư trú tại thôn N, xã N cũng đến chơi. Do có mối quan hệ quen biết từ trước nên chị N đã rủ Hoàng Công A trộm cắp sắt vụn ở trong Nhà máy xi măng N thuộc Công ty Cổ phần X có địa chỉ tại thôn N, xã N, Hoàng Công A đồng ý. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Hoàng Công A đến nhà N, sau đó Hoàng Công A được N dẫn đến vị trí miệng cống sát với tường bao của Nhà máy Xi măng N và chỉ cho lối để đột nhập vào phía trong nhà máy để trộm cắp tài sản. N và Công A lần lượt trèo lên chiếc thang có sẵn trong vườn nhà N để quan sát bên trong khuôn viên nhà máy, chỗ tập trung nhiều sắt vụn. Sau đó Hoàng Công A và N hẹn với nhau đến nửa đêm Công A sẽ đến nhà N để cùng N đi trộm cắp tài sản.

Khoảng 00 giờ 35 phút ngày 24/10/2017, Hoàng Công A quay lại nhà N để cùng N thực hiện việc trộm cắp tài sản như đã bàn bạc, thống nhất với nhau từ trước. Công A trèo lên miệng cống rồi trèo qua tường bao vào bên trong khuôn viên nhà máy. N cũng trèo tường bao vào trong nhà máy rồi cùng Công A lấy các đoạn sắt phế liệu đưa qua tường bao cho Nguyễn Bá C (chồng của Nguyễn Thị N) đang đứng ở bên ngoài. Khi Công A đang kéo 01 (một) mảnh sắt thì bị Tổ công tác Công an huyện Chương Mỹ làm nhiệm vụ tại khu vực thôn N, xã N, huyện Chương Mỹ phối hợp với bảo vệ Nhà máy Xi măng N phát hiện bắt quả tang Hoàng Công A và thu giữ toàn bộ vật chứng đưa về trụ sở làm việc. Nguyễn Thị N và Nguyễn Bá C chạy thoát. Đến 21 giờ ngày 24/10/2017 và 11 giờ ngày 25/10/2017 Nguyễn Thị N và Nguyễn Bá C lần lượt đến Công an huyện Chương Mỹ đầu thú.

Vât chứng thu giữ:

- 01 (một) đoạn sắt loại sắt chữ U (loại U70) có chiều dài 1,2m rộng 40cm bị méo bẹp không rõ hình, cân nặng 15 kg;

- 02 (hai) đoạn sắt loại sắt ống có chiều dài 02m đường kính 4,2cm, cân nặng 10 kg

- 02 (hai) đoạn sắt loại sắt chữ U có chiều dài 80cm rộng 0,8cm bị gãy bẹp méo, cân nặng 18 kg;

- 01 (một) đoạn sắt loại sắt hình chữ I (loại 250) có chiều dài 60cm rộng 20cm, cân nặng 16 kg;

- 01 (một) đoạn sắt chữ U được hàn theo hình tam giác, cân nặng 11 kg;

- 01 (một) đoạn sắt bị cắt bẹp méo không rõ hình, cân nặng 12 kg;

- 01 (một) mảnh sắt hình chữ nhật có gắn bulong, ốc vít, cân nặng 9 kg.

Toàn bộ số sắt trên là sắt vụ rỉ, có tổng trọng lượng 91 kg.

Kết luận định giá số 264/TC-KLĐG ngày 25/10/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chương Mỹ kết luận: Tổng số sắt vụn rỉ đã thu giữ trị giá 227.500 đồng (Hai trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

Cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 05/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố bị cáo Hoàng Công A về tội “Trộm cắp tài sản ” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo Hoàng Công A đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Hoàng Công A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt Hoàng Công A từ 06 tháng đến 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan truy tố, về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án; khởi tố bị can; phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; áp dụng biện pháp tạm giữ; thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Về các biện pháp điều tra như: Lấy lời khai bị can, lấy lời khai của nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi N vụ liên quan, người làm chứng; thu giữ vật chứng; trưng cầu định giá tài sản; về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thu thập đầy đủ, đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên: Không mớm cung, ép cung, bức cung, dùng nhục hình đối với bị can.

[1.2]. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, N vụ liên quan là anh Nguyễn Bá C, chị Nguyễn Thị N và những người làm chứng là ông Đinh Mạnh T, ông Nguyễn Duy D, anh Trương Tuấn T, anh Nguyễn Quyết H, anh Lê Văn D, anh Nguyễn Văn T: Những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.

[1.3]. Về áp dụng điều luật: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngày 24/10/2017 là thời điểm Bộ luật hình sự năm 1999 còn hiệu lực pháp luật. Tại thời điểm xét xử, Bộ luật hình sự năm 2015 đã có hiệu lực pháp luật, tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt nhẹ hơn so với Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 nên theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội cần áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 để xét xử đối với bị cáo.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Xét lời khai của bị cáo Hoàng Công A tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, tang vật thu giữ, kết luận định giá trong tố tụng hình sự, lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, N vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 00 giờ 35 phút ngày 24/10/2017, Hoàng Công A đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 91 kg sắt vụn có giá trị là 227.500 đồng (Hai trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm đồng) của Nhà máy Xi măng N, thuộc Công ty Cổ phần X có địa chỉ tại thôn N, xã N, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội. Do Hoàng Công A đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên hành vi trộm cắp tài sản có giá trị dưới hai triệu đồng lần này của Hoàng Công A phải chịu trách nhiêm hình sự theo quy định pháp luật.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Hoàng Công A về tội “Trộm cắp tài sản ” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Do vậy, cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm cũng như phòng ngừa chung.

[2.2] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo, tạo điều kiện để bị cáo yên tâm cải tạo.

[2.3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[2.4] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

[2.5] Đối với Nguyễn Thị N là người có hành vi rủ rê, lôi kéo và Nguyễn Bá C là người có hành vi giúp sức cho Hoàng Công A trộm cắp tài sản. Xét thấy giá trị tài sản trộm cắp dưới 2.000.000đ, bản thân N và Công chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản nên chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 11/01/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền với mức tiền phạt 1.500.000 đồng đối với Nguyễn Thị N, Nguyễn Bá C về hành vi trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm a, khoản 1, điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ là có căn cứ.

[3]. Về xử lý vật chứng: Ngày 27/10/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại số sắt vụ trên cho Nhà máy Xi măng N, thuộc Công ty Cổ phần X là có căn cứ nên không xem xét.

[4]. Về trách nhiệm dân sự : Ông Đỗ Phú H – Phó phòng Kinh tế Tổng hợp của Công ty xi măng N là người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần X không đề nghị được bồi thường khoản tiền nào khác nên không xem xét trách nhiệm bồi thường.

[5]. Vê án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Công A, (tên gọi khác: Nguyễn Duy T) phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH 13 ngày 20/6/2017 của Quốc hội. Xử ph¹t Hoàng Công A, (tên gọi khác: Nguyễn Duy T) 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 24/10/2017 đến ngày 02/11/2017.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hoàng Công A, (tên gọi khác: Nguyễn Duy T) phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo Hoàng Công A có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi N vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường nơi cư trú.


114
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về