Bản án 29/2018/HNGĐ-ST ngày 31/08/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 29/2018/HNGĐ-ST NGÀY 31/08/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 31/8/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số: 84/2018/TLST-HNGĐ ngày 14/6/2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/7/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2018/QĐST-HNGĐ ngày 15/8/2018, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thúy D, sinh năm 1992. Có mặt. Địa chỉ: Số x, Ấp x, xã T, huyện T, tỉnh L.

2/ Bị đơn: Anh Nguyễn Hải L, sinh năm 1994. Vắng mặt. Địa chỉ: Số x, Ấp x, xã T, huyện T, tỉnh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1/ Theo đơn khởi kiện và những lời khai tại phiên tòa của nguyên đơn chị Phạm Thị Thúy D trình bày: Do quen biết và được sự đồng ý của hai bên gia đình nên năm 2014 chị và anh Nguyễn Hải L sống chung, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã T cấp Giấy chứng nhận kết hôn số x/2014 ngày x/x/2015.

Sau khi cưới, vợ chồng chung gia đình chồng tại Ấp x, xã T, huyện T, tỉnh L. Vợ chồng sống chung thời gian đầu hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, anh L không lo làm ăn, lúc vợ chồng cự cãi anh L có hành vi đánh chị rất nhiều lần. Vợ chồng cắt đứt quan hệ từ tháng 06/2018 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Hải L.

Vợ chồng có con chung tên Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày x/x/2017 hiện đang sống chung với anh L. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nghĩa vụ trả nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2/ Bị đơn anh Nguyễn Hải L trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các thông báo về phiên hòa giải và phiên tòa xét xử nhưng anh L vẫn vắng mặt không có lý do. Do anh L vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Nguyễn Hải L vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh L theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Nguyên đơn chị Phạm Thị Thúy D có đơn yêu cầu Toà án nhân dân huyện Tân Trụ chấp nhận cho đương sự được ly hôn với anh Nguyễn Hải L. Đây là vụ án Hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Tân Trụ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Chị D yêu cầu được ly hôn với anh L, vì nhận thấy rằng mâu thuẫn giữa chị và anh L không thể giải quyết, tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ vợ chồng không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị và anh L cắt đứt quan hệ tình cảm vợ chồng từ tháng 06/2018 cho đến nay. Xét, hôn nhân giữa chị D và anh L có đăng ký kết hôn, được Uỷ ban nhân dân xã T cấp Giấy chứng nhận kết hôn số x ngày x/x/2015, đây là hôn nhân hợp pháp, sẽ được giải quyết theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành các thủ tục về cấp tống đạt, niêm yết hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa nhưng anh L vẫn vắng mặt không có lý do. Điều này chứng minh anh L không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân giữa hai bên. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị D là có cơ sở chấp nhận.

[5] Về nuôi con chung: Vợ chồng có con chung tên Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày x/x/2017, hiện đang sống chung với anh L. Sau khi ly hôn, chị D yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Xét, hiện con chung đang còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ và theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình thì con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử quyết định giao con chung Nguyễn Thị Hải Y cho chị D được trực tiếp nuôi. Chị D không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về chia tài sản và nghĩa vụ trả nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử xét không đề cập xem xét.

[7] Án phí: Chị Phạm Thị Thúy D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35; 39; 147; 228; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82 và 83 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Thúy D và anh Nguyễn Hải L.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày x/x/2017 cho chị Phạm Thị Thúy D trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Hải L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con chung, cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Án phí: Chị Phạm Thị Thúy D phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006384 ngày 14/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ. Chị D đã nộp đủ án phí.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


40
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 29/2018/HNGĐ-ST ngày 31/08/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:29/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Trụ - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:31/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về