Bản án 29/2018/DS-ST ngày 29/06/2018 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH T

BẢN ÁN 29/2018/DS-ST NGÀY 29/06/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI

Ngày 29 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2018/TLST-DS ngày 02 tháng 01 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2018/QĐST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2018/QĐST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà NGUYỄN THỊ H, sinh năm 1957 - (có mặt)

Địa chỉ: Số nhà 55 (số cũ 19/3), ấp Long Kim, xã Long Thành Trung, huyện H, tỉnh T.

- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 04/01/2018):

Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1984; địa chỉ: Số 26, đường QH1 - Trường Chinh, Khu phố 5, Phường 3, thành phố T, tỉnh T - (có mặt).

- Đồng bị đơn:

+ Ông NGUYỄN VĂN T, sinh năm 1960 - (vắng mặt)

+ Bà MANG THỊ H, sinh năm 1957 - (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Số nhà 123/11A, Tổ 22B, ấp Long Thành, xã Long Thành Trung, huyện H, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn nội dung khởi kiện ngày 28 tháng 12 năm 2017 và lời trình bày của bà Nguyễn Thị H và người đại diện hợp pháp của bà H là anh Nguyễn Văn T trong quá trình thu thập chứng cứ thể hiện như sau:

Do quen biết nên bà H có tham gia chơi hụi do vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Mang Thị H làm chủ, cụ thể: Dây hụi mệnh giá 2.000.000 đồng, gồm 26 phần, mỗi tháng khui một lần, bắt đầu khui ngày 08/3/2011 âm lịch, bà H tham gia 01 phần, trong danh sách hụi viên ghi tên “H” ở số thứ tự 18, đã góp được 20 kỳ thành tiền là 40.000.000 đồng. Trong số 40.000.000 đồng, bà H không xác định số tiền gốc bà đã đóng hụi cho ông T, bà H là bao nhiêu, vì cứ tới kỳ hụi ông T, bà H đến nhà gom tiền nói bao nhiêu thì bà góp bấy nhiêu, ông T, bà H có giao danh sách hụi viên cho bà để theo dõi nhưng bà không ghi sổ theo dõi Tng kỳ, bà chỉ nhớ hụi kêu hốt cao nhất là 600.000 đồng.

Tháng 10/2012 (âm lịch) ông T, bà H bỏ đi hơn một tháng rồi về, nói là đi trị bệnh. Đến ngày 05/01/2013 âm lịch ông T, bà H tuyên bố vỡ hụi và bỏ trốn khỏi địa phương cho đến nay, giữa bà với ông T, bà H không có giấy chốt nợ tiền hụi. Ngay sau khi cả nhà ông T, bà H bỏ trốn, bà có cùng với các hụi viên khác khởi kiện ra Tòa, Tòa án cho rằng có dấu hiện hình sự nên kêu bà và các hụi viên khác làm đơn tố cáo gửi Công an huyện H xử lý, bà cùng với một số hụi viên khác có tố cáo vợ chồng ông T, bà H gửi Công an huyện H xử lý nhưng Công an trả lời là tranh chấp dân sự phải khởi kiện qua Tòa án nên chưa giải quyết được. Đến năm 2016 con của ông T, bà H bán đất của ông T, bà H cho người khác nên bà tiếp tục khởi kiện ra Tòa án. Sau khi thụ lý, do ông T, bà H đã bỏ địa phương đi đâu không rõ đi nên bà rút đơn. Đến năm 2017 sau khi biết tin cơ quan Thi hành án huyện H bán nhà đất của vợ chồng ông T, bà H để thi hành án cho người khác còn dư tiền Chi cục Thi hành án dân sự huyện H đang giữ nên nay bà tiếp tục khởi kiện yêu cầu ông T, bà H trả số tiền hụi còn nợ tổng cộng là 40.000.000 đồng, không yêu cầu tính tiền lãi.

Trong quá trình thu thập chứng, Tòa án nhiều lần triệu tập ông T, bà H để lấy lời khai, công khai chứng cứ, hòa giải nhưng không lần nào ông T, bà H đến nên không lấy được lời khai của ông T, bà H. Tại biên bản xác minh ông Đoàn Văn Trung - Trưởng Ban quản lý ấp Long Thành ngày 04/01/2018 thể hiện: Ông Nguyễn Văn T và bà Mang Thị H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số nhà 123/11A, Tổ 22B, ấp Long Thành, xã Long Thành Trung, huyện H, tỉnh T, do làm ăn thất bại, thiếu nợ nhiều người nên đã bỏ nhà đi T năm 2014 đến nay, hiện ông T, bà H ở đâu địa phương không biết. Do ông T, bà H không có mặt ở địa phương nên Tòa án tống đạt hợp lệ các giấy triệu tập, các văn bản tố tụng cho ông T, bà H bằng thủ tục niêm yết công khai để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa, bà H trình bày dây hụi mệnh giá 2.000.000 đồng, theo giấy giao kèo giữa chủ hụi và hụi viên thì kêu hốt cao nhất là 600.000 đồng, thấp nhất là 200.000 đồng, bà đồng ý lấy giá mỗi tháng kêu hốt cao nhất 600.000 đồng, góp 1.400.000 đồng, bà yêu cầu ông T và bà H trả số tiền gốc 28.000.000 đồng và tính tiền lãi theo quy định của pháp luật là 9%/ năm T ngày bà ngưng đóng hụi cho đến nay; ông T và bà H vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể T khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, buộc ông T và bà H cùng có nghĩa vụ trả cho bà H số tiền gốc 28.000.000 đồng và tính tiền lãi theo quy định của pháp luật 9%/ năm T lúc bà H ngưng đóng hụi cho đến nay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về thủ tục tố tụng:

Ông T, bà H là đồng bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông T, bà H.

 [2] Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào các danh sách hụi viên do bà H cung cấp thể hiện bà H có tham gia chơi hụi do ông T, bà H làm chủ là có thật. Sau khi bị vỡ hụi ông T, bà H đã bỏ địa phương đi nơi khác sinh sống không trả lại tiền góp hụi cho bà H là vi phạm về nghĩa vụ T toán, nên bà H khởi kiện. Do đó, xác định đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng góp hụi được quy định tại Điều 479 của Bộ luật dân sự năm 2005.

 [3] Về nội dung vụ án:

Xét dây hụi mệnh giá 2.000.000 đồng, gồm 26 phần, mỗi tháng khui một lần, bắt đầu khui ngày 08/3/2011 âm lịch đến ngày 08/4/2013 âm lịch mãn, bà H tham gia 01 phần, trong danh sách hụi viên thể hiện tên bà H ở số thứ tự 18. Tại các biên bản xác minh ông Hồ Văn Lãnh (Lãm), bà Lê Thị Kim Chi đều trình bày có cùng với bà H tham gia chơi hụi do ông T, bà H làm chủ, ông T, bà H tuyên bố vỡ hụi và bỏ nhà đi đâu không rõ T ngày Mùng 5 Tết năm 2013 đến nay. Sau khi ông T, bà H bỏ trốn khỏi địa phương còn nợ tiền hụi của nhiều người, Trưởng Ban quản lý ấp Long Thành cũng xác nhận. Do đó, việc bà H trình bày đã góp được 20 kỳ hụi mệnh giá 2.000.000 đồng, trung bình mỗi kỳ khui hốt hụi là 600.000 đồng, góp 1.40.000 đồng x 20 kỳ (góp đến tháng 10/2012 âm lịch) thành tiền là 28.000.000 đồng xét thấy phù hợp, nên cần buộc ông T, bà H có nghĩa vụ trả cho bà H số tiền hụi gốc còn nợ 28.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật 9%/ năm T ngày bà H ngưng đóng hụi cho đến nay là có cơ sở chấp nhận, tiền lãi được tính như sau:

Hụi mệnh giá 2.000.000 đồng bắt đầu khui ngày 08/3/2011 âm lịch (tức ngày 25/02/2012 dương lịch), góp 20 kỳ đến ngày 08/10/2012 âm lịch (tức ngày 21/11/2012 dương lịch): 28.000.000 đồng x 0,75%/ tháng x 67 tháng 08 ngày (T ngày 21/11/2012 DL đến ngày 29/6/2018 DL) = 14.126.000 đồng.

Tổng cộng tiền gốc và tiền lãi là 42.126.000 đồng (bốn mươi hai triệu một trăm hai mươi sáu nghìn đồng).

Quan điểm về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H là có cơ sở chấp nhận.

Ông T, bà H phải chịu 5% án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 479 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với ông Nguyễn Văn T và bà Mang Thị H.

Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Mang Thị H có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền hụi còn nợ gốc và lãi là 42.126.000 đồng (bốn mươi hai triệu một trăm hai mươi sáu nghìn đồng).

Kể T ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông T, bà H không chịu trả số tiền trên thì hàng tháng ông T, bà H còn phải trả cho bà H số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí sơ thẩm dân sự: Ông Nguyễn Văn T và bà Mang Thị H phải chịu2.106.000 đồng (hai triệu một trăm lẻ sáu nghìn đồng).

Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh T hoàn trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.000.000 đồng (một triệu đồng) theo biên lai thu số 0004982 ngày 28 tháng 12 năm 2017.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho bà Nguyễn Thị H biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh T để xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể T ngày tuyên án. Riêng ông Nguyễn Văn T và bà Mang Thị H vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể T bản án được tống đạt hợp lệ.


92
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 29/2018/DS-ST ngày 29/06/2018 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

Số hiệu:29/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hoằng Hóa - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:29/06/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về