Bản án 284/2018/HNGĐ-ST ngày 13/11/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 284/2018/HNGĐ-ST NGÀY 13/11/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON CHUNG

Ngày 13 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 540/2018/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2018 về tranh chấp: Ly hôn; tranh chấp nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 251/2018/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thu H, sinh năm 1985.

- Bị đơn: Anh Lâm Hữu T, sinh năm 1983.

Cùng trú tại: Ấp 19/5, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau

(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn chị Nguyễn Thu H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Lâm Hữu T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Giấy chứng nhận kết hôn số 28 ngày 02/4/2007). Quá trình chung sống, thời gian đầu rất hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, mặc dù đã được hòa giải hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay, chị và anh T không còn ai quan tâm đến ai, tình cảm vợ chồng đã không còn, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: Giữa chị và anh T có 01 người con chung tên Lâm Chí H, sinh ngày 29/10/2008. Hiện cháu đang sống chung với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp nuôi dạy cháu H, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ: Chị xác định không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay, chị H yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt chị theo quy định; đồng thời chị vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày.

Đối với bị đơn anh Lâm Hữu T: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh T vắng mặt tại tòa; không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn anh Lâm Hữu T có nơi trú tại ấp 19/5, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; về quan hệ pháp luật tranh chấp là: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chị Nguyễn Thu H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; anh Lâm Hữu T vắng mặt tại phiên tòa; căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị H và anh T theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 28 ngày 02/4/2007 của Uỷ ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau đã cấp cho chị H và anh T nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Chị H yêu cầu ly hôn với anh T, vì cho r ng cuộc sống vợ chồng đã có nhiều mâu thuẫn trầm trọng và không thể tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này; mặc dù đã được hòa giải hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả. Mặc khác, từ khi Tòa án thụ lý giải quyết, Tòa án đã triệu tập chị H và anh T đến Tòa án để tiến hành hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng anh T cũng không đến và chị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Như vậy, cho thấy các đương sự không có thiện chí trong việc hòa giải đoàn tụ gia đình và kiên quyết ly hôn, do đó căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị H được ly hôn với anh T là phù hợp.

[3] Về con chung: Giữa chị H và anh T có 01 người con chung tên Lâm Chí H, sinh ngày 29/10/2008. Hiện cháu đang sống chung với chị. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp nuôi dạy cháu H, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Đối với anh T vắng mặt tại phiên tòa, cũng không có ý kiến về việc nuôi con chung của chị H.

Xét, con chung tên Lâm Chí H, sinh ngày 29/10/2008 có nguyện vọng được sống chung với chị H; hiện cháu đang sống chung và gần gũi với chị H, ổn định về thời gian, phát triển tốt về mọi mặt.

Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tiếp tục giao cháu H cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh T không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

[4] Về cấp dưỡng: Chị H yêu cầu anh T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Xét, theo quy định tại Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: "Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con”, do đó buộc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Hiếu là phù hợp với quy định pháp luật.

Về mức cấp dưỡng, theo quy định tại Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và hướng dẫn tại khoản 2, mục III của Công văn số 24/1999/KHXX ngày 17/3/1999 của Tòa án nhân dân tối cao thì mức cấp dưỡng tối thiểu không dưới 1/2 mức lương cơ sở do nhà nước quy định tại thời điểm xét xử đối với 01 người con, mức lương cơ sở hiện nay là 1.390.000 đồng, do đó buộc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Hiếu số tiền 695.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Hiếu đủ 18 tuổi là phù hợp. Thời điểm cấp dưỡng được tính kể từ ngày 13/11/2018.

[5] Về tài sản chung và nợ: Chị H xác định không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[6] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng, anh T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 235; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng: Điều 19; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 và Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 110; Điều 116; Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thu H.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thu H với anh Lâm Hữu T.

Về con chung: Tiếp tục giao cháu Lâm Chí H, sinh ngày 29/10/2008 cho chị Nguyễn Thu H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lâm Hữu T không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng: Buộc anh Lâm Hữu T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Lâm Chí H, sinh ngày 29/10/2008 số tiền 695.000 đồng/tháng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng được tính kể từ ngày 13/11/2018.

Về tài sản chung và nợ: Chị Nguyễn Thu H xác định không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thu H đã dự nộp trước 300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008479 ngày 17/7/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu án phí; anh Lâm Hữu T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 284/2018/HNGĐ-ST ngày 13/11/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

Số hiệu:284/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:13/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về