Bản án 28/2020/HS-ST ngày 25/06/2020 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN - TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 28/2020/HS-ST NGÀY 25/06/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 25 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2020/TLST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2020/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2020, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn V, sinh năm 1956 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số nhà A, phường P, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Trần Thị L (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Tuyết H và 01 con; Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 23/01/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Nhân thân:

- Ngày 16/01/2014 bị Công an phường P, thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Ngày 12/3/2015 bị Công an thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác”.

- Ngày 13/01/2016 bị Công an tỉnh Nam Định xử phạt hành chính số tiền là 5.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép pháo nổ”. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/4/2020 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Chị Trần Thị Thùy L, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn 5, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Trần Đình C, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn 3, xã H, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

+ Ông Trần Hòa H, sinh năm 1961; nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện M, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Trần Duy C1; chị Trần Thị P; bà Đinh Thị T; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 12 giờ ngày 31/3/2020, Nguyễn Văn V điều khiển xe đạp mini đi từ nhà mình đến khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày, V đến nhà ông Trần Duy M thì thấy nhà ông M đang đóng cửa. V quan sát thấy trên sân nhà ông Trần Duy C1, sinh năm 1956 ở thôn 5, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam có một xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, biển kiểm soát 90B1-094.73, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa nên V nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Lúc này, V dựng chiếc xe đạp mini của mình ở sân nhà ông M rồi đi bộ sang sân nhà ông C1 dắt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, biển kiểm soát 90B1-094.73 ra ngõ, nổ máy rồi điều khiển xe về thư viện tỉnh N nhờ ông Trần Hòa H trông hộ, sau đó V đi về nhà.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lý Nhân đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn V.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật của Nguyễn Văn V thu giữ: 01 quần bò màu xanh lam đậm, đã cũ; 01 thắt lưng giả da màu đen đã cũ, mặt thắt lưng có chữ POLO và 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu tím than đã cũ, viền lưỡi trai màu đỏ.

Chị Trần Thị Thùy L tự nguyện giao nộp 01 xe đạp mini màu hồng và 01 giấy đăng ký xe mô tô số 016846 mang tên Nguyễn Văn T. Ông Trần Hòa H đã giao nộp chiếc chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, biển kiểm soát 90B1- 094.73.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 07/KL-ĐGTS ngày 03/4/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện L, kết luận: “Gía trị của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RS màu sơn đỏ - đen - bạc được mô tả như trên là 6.646.500 đồng (bằng chữ: Sáu triệu sáu trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm đồng). Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra xác định chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RS được ông Trần Đình C mua lại của anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam, đây là tài sản hợp pháp của ông Trần Đình C. Ngày 31/3/2020 ông C cho chị Trần Thị Thùy L mượn chiếc xe trên để làm phương tiện đi lại, sau khi đi làm về chị L dựng xe ở sân nhà ông C1 thì bị V lấy trộm. Ngày 14/5/2020 Cơ quan Công an huyện Lý Nhân đã trả lại ông C chiếc xe mô tô trên cùng giấy tờ xe, ông Cảnh và chị Linh đều không có yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự.

Bản cáo trạng số: 31/CT-VKSLN ngày 04/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội“Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

- Tại phiên tòa:

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam 01/4/2020. Hình phạt bổ sung không áp dụng. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét, giải quyết. Đề nghị hướng xử lý vật chứng và án phí vụ án.

+ Bị cáo Nguyễn Văn V khai nhận hành vi của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân đã truy tố và nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên; bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lý Nhân, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác tại cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 31/3/2020, tại nhà ông Trần Duy C1, sinh năm 1956 ở thôn 5, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam. Nguyễn Văn V đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, biển kiểm soát 90B1-094.73, trị giá 6.646.500 (Sáu triệu sáu trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm) đồng do chị Trần Thị Thùy L đang quản lý, sử dụng.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn V đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã truy tố.

[3] Về hình phạt: Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự địa phương. Xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo hộ nên cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân rất xấu, nhiều lần bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và xét xử.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Trên cơ sở đánh giá tính chất của vụ án, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Xét thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo, bảo đảm an ninh trật tự phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo yên tâm chấp hành án.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản và không có thu nhập nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Đình C và chị Trần Thị Thùy L không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên không xem xét, giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe đạp màu hồng, loại xe mini hai dóng ngang, một dóng dọc, xe cũ đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng quản lý để đảm bảo công tác thi hành án dân sự.

- Đối với 01 quần bò màu xanh lam đậm, đã cũ; 01 thắt lưng giả da màu đen đã cũ, mặt thắt lưng có chữ POLO và 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu tím than đã cũ, viền lưỡi trai màu đỏ là tài sản hợp pháp của bị cáo. Bị cáo đề nghị không nhận lại, không có giá trị sử dụng do đó, tịch thu và tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[9] Về các vấn đề khác: Đối với hành vi ông Trần Hòa H nhận trông xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, biển kiểm soát 90B1-094.73 cho Nguyễn Văn V. Qúa trình điều tra xác định ông H không biết chiếc xe trên là tài sản do Nguyễn Văn V trộm cắp mà có nên không xem xét, xử lý.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam 01/4/2020.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Trả lại cho bị cáo: 01 xe đạp màu hồng, loại xe mini hai dóng ngang, một dóng dọc, xe cũ đã qua sử dụng nhưng quản lý để đảm bảo công tác thi hành án dân sự.

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 quần bò màu xanh lam đậm, đã cũ; 01 thắt lưng giả da màu đen đã cũ, mặt thắt lưng có chữ POLO và 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu tím than đã cũ, viền lưỡi trai màu đỏ.

(Tình trạng số lượng, loại vật chứng cụ thể như biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/6/2020 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lý Nhân với Chi cục thi hành án dân sự huyện L).

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


9
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 28/2020/HS-ST ngày 25/06/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:28/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lý Nhân - Hà Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 25/06/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về