Bản án 28/2019/HS-ST ngày 28/02/2019 về tội tàng trữ hàng cấm

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VY, TỈNH VP

BẢN ÁN 28/2019/HS-ST NGÀY 28/02/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ HÀNG CẤM

Ngày 28 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố VY, Tòa án nhân dân thành phố VY, tỉnh VP xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2019/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:

Phùng Minh Đ, sinh ngày 15/3/1998, tại VP; nơi cư trú: Thôn Đ, xã HĐ, huyện TD, tỉnh VP; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn H và bà Hoàng Thị Ng; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH vận tải TL VP; địa chỉ: Km3, đường Trần Phú, phường LB, thành phố VY, tỉnh VP do ông Nguyễn Thế C là người đại diện theo pháp luật.

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH vận tải TL: Ông Đỗ Hùng S, sinh năm 1966; nơi cư trú: Số 211C1, phường TM, quận HM, thành phố HN (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 23/11/2018, Phùng Minh Đ là lái xe taxi của Công ty TNHH vận tải TLVP điều khiển xe ô tô taxi BKS: 88A – 165.99 đi chở khách trên địa bàn thành phố VY. Khoảng 9 giờ cùng ngày, do có nhu cầu mua pháo về để sử dụng trong dịp tết Nguyên đán năm 2019 nên Đ điều khiển xe ô tô taxi BKS: 88A – 165.99 đến khu vực Ngã tư TD, thuộc phường ĐT, thành phố VY. Đ gặp một người nam giới (không rõ tên, tuổi, địa chỉ), Đ hỏi người nam giới: “Có bán pháo không”, nam giới này trả lời: “Có, mua pháo gì”, Đ nói: “Pháo giàn”, nam giới này nói: “550.000đ/1 hộp, mua mấy hộp” thì Đ bảo: “Bán cho em 06 hộp”, người nam giới này đồng ý và bảo Đ đứng chờ, khoảng 05 phút sau người nam giới quay lại đưa cho Đ 01 bao tải màu xanh, Đ kiểm tra bên trong thấy có 06 hộp pháo nên Đ trả cho người nam giới số tiền 3.300.000đ, người nam giới này cầm tiền rồi bỏ đi, Đ cất giấu 06 hộp pháo vừa mua được vào cốp phía sau xe ô tô BKS: 88A – 165.99. Sau đó, Đ điều khiển xe ô tô đến khu vực cổng siêu thị Coopmax, phường KQ, thành phố VY để chờ khách. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Đ điều khiển xe ô tô taxi BKS: 88A – 165.99 về nhà để cất giấu 06 hộp pháo. Khi Đ điều khiển xe ô tô đi đến khu vực đường Lý Thái Tổ thuộc KHC7, phường LB, thành phố VY, thì bị tổ tuần tra Công an thành phố VY phát hiện, lập biên bản. Tang vật thu giữ: 01 bao tải màu xanh bên trong có chứa 06 vật thể hình hộp chữ nhật nghi là pháo có tổng trọng lượng là 9 kg, số tang vật trên được niêm phong theo thủ tục pháp luật; 01 giấy phép lái xe số 260160011904 mang tên Phùng Minh Đ; 01 xe ô tô BKS: 88A – 165.99 và số tiền 800.000đ.

Tại Kết luận giám Đ số 1761/KLGĐ ngày 28/11/2018, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh VP kết luận: 06 khối hộp của mẫu gửi giám định đều là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ). Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 09kg. Hoàn lại đối tượng giám định gồm 05 hộp pháo có tổng khối lượng là 7,5kg được niêm phong kín trong 01 hộp bìa cát tông.

Về nguồn gốc số pháo: Quá trình điều tra Đ khai nhận mua pháo của một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ, khoảng hơn 20 tuổi, dáng người gầy, cao khoảng 1m70, da ngăm đen, tóc cắt ngắn. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại khu vực ngã tư TD, phường ĐT, thành phố VY về người nam giới có đặc điểm như trên nhưng không xác Đ được người nam giới này là ai.

Ti Cáo trạng số: 08/CT-VKSND VY ngày 07/01/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố VY đã truy tố Phùng Minh Đ về tội: “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Ti Cơ quan điều tra và phiên tòa, bị cáo Phùng Minh Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH vận tải TLVP vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra đã trình bày: Ngày 22/10/2018, Công ty TNHH vận tải TL, VP có ký hợp đồng lao động với Phùng Minh Đ, theo hợp đồng thì Đ là lái xe của Công ty, Công ty đã bàn giao xe ô tô BKS: 88A- 16599 nhãn hiệu KIA, màu sơn bạc, xe có gắn mào và nhãn mác taxi số 585858 của hãng taxi TL để Đ điều khiển taxi chở khách. Chiếc xe ô tô BKS: 88A- 16599 là tài sản của Công ty TNHH vận tải TL không phải là tài sản của Đ, Đ chỉ lái xe cho Công ty được Công ty trả lương. Việc Đ tàng trữ hàng cấm (pháo nổ), Công ty không biết. Hiện nay Công ty TNHH vận tải TL đã được Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe ô tô trên, sau khi nhận lại tài sản Công ty không có yêu cầu gì đối với bị cáo (Bút lục 72 - 75).

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phùng Minh Đ phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Phùng Minh Đ từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 - 24 tháng. Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017); khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu tiêu huỷ 05 hộp pháo có tổng khối lượng là 7,5kg được niêm phong kín trong 01 hộp bìa cát tông là mẫu vật hoàn lại sau giám định. Xác nhận Cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty TNHH vận tải TL 01 chiếc xe ô tô BKS: 88A- 16599 là hợp pháp; trả lại cho bị cáo Phùng Minh Đ: 01 giấy phép lái xe số 260160011904 mang tên Phùng Minh Đ và số tiền 800.000đ;

Bị cáo Phùng Minh Đ không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Phùng Minh Đ tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ phạm tội, cùng các tang vât đa thu g iư, các tài liệu chứng cứ được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Do có nhu cầu mua pháo về đốt trong dịp tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019 nên khoảng 09 giờ ngày 23/11/2018, tại khu vực ngã tư TD thuộc phường ĐT, thành phố VY, Phùng Minh Đ đã mua của một nam thanh niên lạ mặt 06 hộp pháo với giá 3.300.000đ và cất giấu trong cốp sau xe ô tô Taxi BKS: 88A-165.99 do Đ điều khiển. Đến khoảng 11 giờ 30 cùng ngày, Đ điều khiển xe ô tô taxi BKS 165.99 chở 06 hộp pháo trên đến khu vực đường Lý Thái Tổ thuộc KHC7, phường LB, thành phố VY thì bị bị tổ tuần tra Công an thành phố VY phát hiện, lập biên bản sự việc, thu giữ 06 hộp pháo có tổng khối lượng là 9kg, qua giám định đều là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ).

Hành vi của Phùng Minh Đ đã phạm vào tội: “Tàng trữ hàng cấm” (pháo nổ), tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017.

Ni dung điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ… hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây,…thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

c)Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam”.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quy định, quản lý của Nhà nước về hàng hóa. Bị cáo nhận thức được pháo là loại hàng Nhà nước cấm sản xuất, buôn bán, vận chuyển, sử dụng nhưng bị cáo vẫn tàng trữ pháo về để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã làm ảnh hưởng tới tình hình trật tự, trị an tại địa phương và gây ảnh hưởng xấu đối với việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo nghiêm trước pháp luật mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

[2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội , Hôi đông xét xử nhận thấy:

Bị cáo phạm tội theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có mức cao nhất của khung hình phạt tù đến 3 năm nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm ít nghiêm trọng.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào và có các tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo là người có nhân thân tốt vì chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy Hội đồng xét xử thấy rằng không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.

[3] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[4] Đối với người có liên quan và hành vi có liên quan trong vụ án: Đối với người nam giới bán pháo cho Đ, Đ không biết tên, tuổi, địa chỉ, người này khoảng hơn 20 tuổi, dáng người gầy, cao khoảng 1m70, da ngăm đen, tóc cắt ngắn. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại khu vực ngã tư TD, phường ĐT, thành phố VY về người nam giới có đặc điểm như trên nhưng không xác Đ được người nam giới này là ai. Do vậy, Cơ quan điều tra xác minh làm rõ, xử lý sau.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa xác định bị cáo không có tài sản, nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về vật chứng:

Đi với 05 hộp pháo có tổng khối lượng là 7,5kg được niêm phong trong 01 hộp bìa cát tông là mẫu vật hoàn lại sau giám định, là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Đi với 01 giấy phép lái xe số 260160011904 mang tên Phùng Minh Đ và số tiền 800.000đ, quá trình điều tra xác định là giấy tờ cá nhân và tài sản của Đ, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

Đi với chiếc xe ô tô taxi BKS: 88A – 165.99, Đ sử dụng để chở pháo, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu của chiếc xe là Công ty TNHH vận tải TLVP. Ngày 08/12/2018, Cơ quan điều tra Công an thành phố VY đã trả lại chiếc xe ô tô trên cho ông Đỗ Hùng S là người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH vận tải TLVP. Sau khi nhận lại tài sản ông Sơn không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy Đ của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

n cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Phùng Minh Đ 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo về tội: “Tàng trữ hàng cấm”, thời gian thử thách 01 (một) năm 08 (tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phùng Minh Đ cho Ủy ban nhân dân xã HĐ, huyện TD, tỉnh VP giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trong thời gian thử thách của án treo, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết Đ buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trưng hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

n cứ khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tch thu tiêu hủy 05 hộp pháo có tổng khối lượng là 7,5kg được niêm phong trong 01 hộp bìa cát tông là mẫu vật hoàn lại sau giám định;

Trả lại cho bị cáo Phùng Minh Đ 01 giấy phép lái xe số 260160011904 mang tên Phùng Minh Đ; trả lại bị cáo Đ số tiền 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án. (Đặc điểm tang vật như biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/01/2019).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phùng Minh Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết./.


15
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 28/2019/HS-ST ngày 28/02/2019 về tội tàng trữ hàng cấm

Số hiệu:28/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 28/02/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về