Bản án 28/2019/HS-ST ngày 22/08/2019 về tội hủy hoại rừng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

BẢN ÁN 28/2019/HS-ST NGÀY 22/08/2019 VỀ TỘI HỦY HOẠI RỪNG

Trong ngày 22 tháng 8 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Đinh B, sinh năm 1976 tại huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: thôn M, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 01/12; Dân tộc: Bana; giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn S (đã chết) và bà Đinh Thị L (đã chết); vợ: Đinh Thị Y, sinh năm 1982; con: 01 con, sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Nguyễn Thị Hồng Thắm – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Định (có mặt).

- Người bị hại:

Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định;

Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn Tuấn – Chức vụ: Phó Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Tây Sơn (theo văn bản ủy quyền ngày 19/8/2019).

Địa chỉ: khối P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định (có mặt).

- Người làm chứng:

+ NLC1, sinh năm 1967;

+ NLC2, sinh năm 1968;

Đồng trú tại: thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định (có mặt).

+ NLC3, sinh năm 1978;

Trú tại: thôn A, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định (có đơn xin vắng mặt).

+ NLC4, sinh năm 1985;

Trú tại: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định (có đơn xin vắng mặt).

+ NLC5, sinh năm 1968;

+ NLC6, sinh năm 1978;

+ NLC7, sinh năm 1982;

Đồng trú tại: thôn M, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 3/2016, Đinh B (SN:1967) ở thôn M, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định, trong lúc đi rừng tại tục danh Đá Trắng thấy khu vực rừng tự nhiên tại Lô 3, khoảnh 1, tiểu khu 241 thuộc thôn M, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định. Do Ban Quản lý rừng phòng hộ Tây Sơn quản lý, sử dụng vào mục đích phòng hộ, có nhiều cây bụi, dây leo và một số cây thành ngạnh, cây dền cao khoảng 3 - 4m, đường kính khoảng 12cm mọc rải rác … được NLC5 (SN: 1968) ở Xóm, thôn M, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định ký hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng. B đã nảy sinh ý định chặt phá diện tích rừng này để lấy đất làm rẫy trồng cây hoa màu để cải thiện cuộc sống gia đình.

Sau đó, B điều khiển xe mô tô mang theo 02 cái rựa có đặc điểm tương tự nhau (có chiều dài 56cm gồm 02 phần liền nhau lưỡi rựa và cán rựa; lưỡi rựa làm bằng kim loại sắt chiều dài 22cm, chiều rộng 4,7cm, hình dáng cong; cán rựa làm bằng gỗ, chiều dài 34cm, đường kính 2,8cm, hình dáng tròn thẳng), thức ăn, nước uống và 02 cái võng đã cũ đến khu vực rừng tự nhiên thuộc Lô 3, khoảnh 1, Tiểu khu 241 xã B, huyện T, tỉnh Bình Định để chặt phá cây rừng. Khi đến nơi, B bỏ xe máy ở bìa rừng và đi bộ mang theo công cụ đã chuẩn bị sẵn đến vị trí trên sử dụng luân phiên 02 cái rựa để chặt phá cây bụi, rong cành nhánh dây leo, chặt hạ các cây nhỏ trước rồi chặt hạ cây lớn sau, theo hướng từ Tây sang Đông trong khoảng thời gian 15 ngày liên tục với tổng diện tích chặt hạ là 6.915m2. Khoảng 15 ngày sau, khi cây rừng bị chặt hạ đã khô, B dùng quẹt ga bật lửa đốt dọn trên diện tích rừng đã phá để chuẩn bị trồng mì. Khi B đang tiến hành đốt dọn thì NLC5 phát hiện, giữ của B 01 cái rựa và 02 cái võng cũ đã qua sử dụng đem về nhà cất giữ làm bằng chứng. Sau đó, NLC5 báo cáo sự việc cho cán bộ Ban quản lý rừng phòng hộ Tây Sơn. Sau khi bị phát hiện, ngăn chặn B không tiến hành trồng mì hay canh tác gì trên diện tích rừng đã chặt phá, để cây rừng tái sinh tự nhiên.

Ngày 03/11/2017 Hạt kiểm lâm huyện Tây Sơn đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 528/QĐ-TCGĐ-KL, trưng cầu Trung tâm Quy hoạch Nông nghiệp nông thôn tỉnh Bình Định giám định thiệt hại về rừng do bị can Ben gây ra. Ngày 27/12/2017, Trung tâm Quy hoạch Nông nghiệp nông thôn tỉnh Bình Định có thông báo giám định thiệt hại về rừng số: 224/TB-TTQH, xác định: Địa điểm rừng bị thiệt hại: thuộc Lô 3, khoảnh 1, tiểu khu 241, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định. Diện tích bị thiệt hại là 6.915m2, là rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh có trạng thái rừng nghèo thuộc quy hoạch chức năng rừng phòng hộ, tổng trữ lượng rừng thiệt hại 12,6m3. Hiện trường rừng tại thời điểm giám định: cây rừng đã chặt hạ, còn gốc chặt, chồi đã tái sinh cao khoảng 02m.

Ngày 28/9/2018, Hạt kiểm lâm huyện Tây Sơn ra yêu cầu định giá tài sản số: 17/YCĐGTS-KL đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tây Sơn tiến hành định giá giá trị thiệt hại về lâm sản, môi trường và các giá trị khác (nếu có) trên diện tích rừng bị phá là 6.915m2, loại rừng bị thiệt hại là rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh có trạng thái rừng nghèo thuộc quy hoạch chức năng rừng phòng hộ với tổng trữ lượng rừng bị thiệt hại 12,6m3 mà bị can B đã phá. Ngày 11/10/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tây Sơn kết luận: Giá trị lâm sản, giá trị môi trường của rừng bị thiệt hại tại khoảnh 1, tiểu khu 241, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định, với trữ lượng 12,6 m3 có giá trị là 9.563.400 đồng.

Vật chứng Hạt kiểm lâm huyện Tây Sơn thu giữ:

- 01 (một) cái rựa đã qua sử dụng, chiều dài 56cm, gồm 02 phần liền nhau lưỡi rựa và cán rựa; lưỡi rựa làm bằng kim loại sắt, chiều dài 22cm, chiều rộng 4,7cm, hình dáng cong; cán rựa làm bằng gỗ, chiều dài 34cm, đường kính 2,8cm, hình dáng tròn thẳng.

Đối với 01 cái rựa đã cũ và 02 cái võng cũ đã qua sử dụng mà bị can B mang theo khi đi chặt hạ cây rừng đã bị NLC5 thu đem về nhà cất giữ và bị thất lạc, Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Riêng hộp quẹt ga mà bị can B dùng để đốt dọn cây rừng đã khô trên diện tích rừng đã chặt phá, B đã vứt bỏ, không nhớ vứt ở vị trí nào. Cơ quan CSĐT - Công an huyện Tây Sơn không thu giữ được.

Đối với các cán bộ, nhân viên của Ban quản lý rừng phòng hộ Tây Sơn và Hạt kiểm lâm huyện Tây Sơn được phân công quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ tại tiểu khu 241, thôn M, xã B, huyện T để xảy ra sự việc B phá rừng tại tiểu khu này. Cơ quan CSĐT – Công an huyện Tây Sơn sẽ tiếp tục điều tra, làm rõ trách nhiệm để xem xét xử lý theo quy định pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, đại diện Ban quản lý rừng phòng hộ Tây Sơn yêu cầu bị cáo B tiếp tục bồi thường, khắc phục hậu quả đối với những thiệt hại trên diện tích rừng mà B đã chặt phá ngoài số tiền đã bồi thường trước là 500.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 28/CT-VKSTS ngày 30/6/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn đã truy tố bị cáo Đinh B về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm c Khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn đề nghị:

- Về hình phạt: Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự; các điểm b, m, s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đinh B mức án từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sựBuộc bị cáo Đinh B phải bồi thường thiệt hại tài sản đã gây ra cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Tây Sơn số tiền là 9.063.400 đồng (đã trừ số tiền bồi thường trước là 500.000 đồng).

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái rựa đã qua sử dụng, chiều dài 56cm gồm hai phần liền nhau lưỡi rựa và cán rựa; lưỡi rựa làm bằng kim loại sắt, chiều dài 22cm, chiều rộng 4,7cm, hình dáng cong; cán rựa làm bằng gỗ, chiều dài 34cm, đường kính 2,8cm, hình dáng tròn, thẳng.

Người bào chữa cho bị cáo Đinh B là bà Nguyễn Thị Hồng Thắm trình bày:

Thống nhất hành vi phạm tội của bị cáo B phạm tội “Hủy hoại rừng” như bản cáo trạng cũng như lời luận tội Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa. Sau khi phạm tội: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế; bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội do lạc hậu; đã khắc phục một phần hậu quả; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; hoàn cảnh gia đình khó khăn (hộ cận nghèo). Với nhiều tình tiết giảm nhẹ nêu trên nên thống nhất với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo Đinh B mức án từ 16 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đinh B phải bồi thường thiệt hại tài sản đã gây ra cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Tây Sơn số tiền là 9.063.400 đồng (đã trừ số tiền bồi thường trước là 500.000 đồng).

Bị cáo, người bị hại, người bào chữa không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội cũng như đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tây Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện:

Vào khoảng tháng 03/2016, Đinh B đã dùng rựa chặt phá, đốt trái phép cây rừng với tổng diện tích bị thiệt hại 6.915m2 tại vị trí tại lô 3, khoảnh 1, tiểu khu 241, có tục danh Đá Trắng, thuộc thôn M, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Tây Sơn quản lý, bảo vệ. Đây là loại rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh, có trạng thái rừng nghèo, thuộc quy hoạch chức năng rừng phòng hộ, tổng trữ lượng rừng bị thiệt hại 12,6 m3 có giá trị là 9.563.400 đồng. Hành vi phá rừng trái phép nhằm mục đích làm rẫy của bị cáo đã phạm tội “Hủy hoại rừng”, với tình tiết định khung “Hủy hoại rừng phòng hộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật hình sự năm 1999. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ.

Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về tội “Hủy hoại rừng” tại Điều 189 có nội dung:

“1. Người nào đốt, phá rừng trái phép rừng hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm:

2) …

3) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) …

b) Huỷ hoại rừng phòng hộ, ….”

Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 về tội “Hủy hoại rừng” tại Điều 243 có nội dung:

“1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) …;

c) Rừng phòng hộ có diện tích từ 3.000 mét vuông (m2) đến dưới 7.000 mét vuông (m2)

…”

Đối chiếu nội dung 2 Điều luật trên thì quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có lợi hơn đối với bị cáo. Căn cứ quy định của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2016 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015, nên áp dụng quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để xét xử bị cáo. Do đó, VKSND huyện Tây Sơn truy tố bị cáo về tội “Hủy hoại rừng” quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Bị cáo Đinh B là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ phá rừng trái phép là vi phạm pháp luật. Song chỉ vì muốn lấy đất để làm rẫy bị cáo đã bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây thiệt hại lớn về môi trường sinh thái, ảnh hưởng xấu đến công tác quản lý và bảo vệ rừng phòng hộ trên địa bàn huyện Tây Sơn. Do vậy, cần xử lý bị cáo mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mới đủ giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Bị cáo đã cố gắng khắc phục một phần hậu quả với số tiền là 500.000 đồng. Bị cáo phạm tội do lạc hậu vì là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa; trình độ học vấn thấp nên nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế; Bị cáo vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn thuộc diện hộ cận nghèo, thiếu đất sản xuất, muốn có đất làm nương rẫy trồng mì, bắp để cải thiện đời sống. Tại phiên tòa, đại diện Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Tây Sơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, m, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, là người đồng bào dân tộc thiểu số nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát giư quyền công tố tại phiên tòa mới thể hiện chính khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước và cũng đủ tác dụng giáo dục để bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội. Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo và là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn việc khấu trừ thu nhập.

[6] Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự; Buộc bị cáo Đinh B phải bồi thường thiệt hại tài sản cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Tây Sơn số tiền là 9.063.400đ (Chín triệu không trăm sáu mươi ba nghìn bốn trăm đồng) - đã trừ số tiền bồi thường trước là 500.000 đồng.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. 01 (một) cái rựa đã qua sử dụng, chiều dài 56cm gồm hai phần liền nhau lưỡi rựa và cán rựa; lưỡi rựa làm bằng kim loại sắt, chiều dài 22cm, chiều rộng 4,7cm, hình dáng cong; cán rựa làm bằng gỗ, chiều dài 34cm, đường kính 2,8cm, hình dáng tròn, thẳng là tang vật vụ án nên tịch thu tiêu hủy;

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/7/2019 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Sơn và Công an huyện Tây Sơn).

[8] Đối với các cán bộ, nhân viên của Ban quản lý rừng phòng hộ Tây Sơn và Hạt kiểm lâm huyện Tây Sơn được phân công quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ tại tiểu khu 241, thôn M, xã B, huyện T để xảy ra sự việc B phá rừng tại tiểu khu này. Cơ quan CSĐT – Công an huyện Tây Sơn sẽ tiếp tục điều tra, làm rõ trách nhiệm để xem xét xử lý theo quy định pháp luật nên miễn xét.

[9] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo Đinh B là người đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và là hộ cận nghèo nên được miễn nộp tiền án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đinh B phạm tội Hủy hoại rừng”.

Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 243; điểm b, m, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Đinh B 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời gian thụ hình của bị cáo Đinh B được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Đinh B cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Bình Định (nơi bị cáo thường trú) giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt.

Bị cáo được miễn việc khấu trừ thu nhập.

* Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự;

Buộc bị cáo Đinh B phải bồi thường cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định số tiền là 9.063.400đ (Chín triệu không trăm sáu mươi ba nghìn bốn trăm đồng) - đã trừ số tiền 500.000 đồng bồi thường trước.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành, nếu bên phải thi hành không chịu trả số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái rựa đã qua sử dụng, chiều dài 56cm gồm hai phần liền nhau lưỡi rựa và cán rựa; lưỡi rựa làm bằng kim loại sắt, chiều dài 22cm, chiều rộng 4,7cm, hình dáng cong; cán rựa làm bằng gỗ, chiều dài 34cm, đường kính 2,8cm, hình dáng tròn, thẳng;

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/7/2019 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Sơn và Công an huyện Tây Sơn).

* Về án phí: Áp dụng Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo Đinh B được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo và đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


16
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về