Bản án 28/2019/HS-ST ngày 12/04/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 28/2019/HS-ST NGÀY 12/04/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 12 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2019/HSST ngày 15 tháng 3 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2019/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Phạm Văn P, sinh năm 1982 tại xã H, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Nơi cư trú: Xóm 9, xã H, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ và bà Mai Thị Th; Có vợ là Roãn Thị Hương Gi; có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện tại ngoại, chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 11 ngày 27/12/2018 của CQCSĐT Công an huyện Giao Thủy.

2. Phạm Văn L, sinh năm 1988 tại xã H, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Nơi cư trú: Xóm 15 xã H, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12 ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Ch (đã chết) và bà Phạm Thị T; có vợ Nguyễn Thị V; có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 16 tháng 01 năm 2012 bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2018 đến ngày 27/12/2018. Hiện tại ngoại, chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 11 ngày 27/12/2018 của CQCSĐT Công an huyện Giao Thủy.

3. Phạm Hồng Đ, sinh năm 1979 tại xã H, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Nơi cư trú: Xóm 8 xã H, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12 ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình T và bà Phạm Thị H; có vợ Cao Thị B; có 02 con; Tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2018 đến ngày 09/01/2019. Hiện tại ngoại, chấp hành Quyết định cho bảo lĩnh số 03 ngày 09/01/2019 của CQCSĐT Công an huyện Giao Thủy.

4. Lê Văn B, sinh năm 1981 tại xã H, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Nơi cư trú: Xóm 9 xã H, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12 ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hải T và bà Vũ Thị K (đã chết); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2018 đến ngày 27/12/2018. Bị cáo được tại ngoại, chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 12 ngày 27/12/2018 của CQCSĐT Công an huyện Giao Thủy. Ngày 27/3/2019 bị bắt tạm giữ, tạm giam về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

5. Phạm Đình H, sinh năm 1988 tại xã H, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Nơi cư trú: Xóm 10 xã H, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp : Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12 ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình T và bà Phạm Thị Kh; có vợ Trần Thị M (đã ly hôn); Có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 02/3/2005 bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt 09 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2018 đến ngày 27/12/2018. Hiện tại ngoại, chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 13 ngày 27/12/2018 của CQCSĐT Công an huyện Giao Thủy.

6. Vũ Hồng H, sinh năm 1981 tại xã Gi, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Nơi cư trú: Xóm 3, Quyết Thắng, xã Gi, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn:12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Viết Ng (đã chết) và bà Cao Thị Ng; Có vợ là Lê Thị Th; có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2018 đến ngày 27/12/2018. Hiện tại ngoại, chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 14 ngày 27/12/2018 của CQCSĐT Công an huyện Giao Thủy.

- Người làm chứng:

+ Anh Lê Ngọc S, sinh năm 1980

+ Ông Phạm Trọng R, sinh năm 1958

+ Anh Phạm Trọng Tr, sinh năm 1970

+ Anh Phạm Đình D, sinh năm 1993

+ Anh Phạm Ngọc V, sinh năm 1975

Đều có địa chỉ: Xóm 9, xã H, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

+ Anh Nguyễn Quang T, sinh năm 1988

+ Anh Phạm Văn Nh, sinh năm 1974

Đều có địa chỉ: Xóm 8, xã H, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

+ Anh Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1992

Địa chỉ: Xóm 6, xã Gi, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

+ Anh Lê Văn Nh, sinh năm 1974

Địa chỉ: Xóm 10, xã H, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

+ Anh Trần Trung K, sinh năm 1993

Địa chỉ: Xóm 5, xã H, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

+ Anh Lê Xuân L, sinh năm 1966

Địa chỉ: Xóm 3, xã X, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định

+ Anh Phạm Ngọc C, sinh năm 1992

Địa chỉ: Xóm 16, xã H, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

Tại phiên tòa: Có mặt các bị cáo; Những người làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 17/12/2018, sau khi dự đám cưới tại nhà anh Lê Văn S thì Phạm Văn P cùng Phạm Văn L, Lê Văn B và một số người khác là họ hàng của anh Lê Văn S cùng dự đám cưới (không xác định được là ai) sang nhà anh Lê Ngọc S thì thấy anh S, ông Phạm Trọng R; anh Phạm Trọng Tr và anh Phạm Trọng Nh đang chơi xì tẩy ăn tiền tại gian bếp nhà anh S. Thấy gian bếp đã có chiếu trải sẵn, Ph, L, B và một số người khác cùng thống nhất chơi xóc đĩa ăn tiền. Ph đi lấy 01 bát sứ, 01 đĩa sứ và cắt 04 quân vị từ vỏ bao thuốc lá rồi xóc cái cho mọi người tham gia đặt cửa ván thấp nhất là 10.000 đồng, ván cao nhất là 100.000 đồng. Sau khi thua hết tiền, Ph nghỉ không chơi nữa đi về và chuyển cho L xóc cái chơi cùng mọi người. Đến khoảng 23 giờ 20 phút cùng ngày, Phạm Hồng Đ đến nhà anh S với mục đích đánh bạc. Khi đến nhà anh S thấy mọi người tại chiếu xóc đĩa cãi nhau, Đ đã dùng kéo cắt vỏ bao thuốc thành 04 quân vị khác rồi vào thay L xóc cái và thống nhất chơi đặt thấp nhất là 200.000 đồng, cao nhất tùy người đặt cửa. Khoảng 22 giờ cùng ngày, Phạm Đình H gọi điện cho B biết ở đám cưới có đánh bạc, T gọi điện rủ thêm Vũ Hồng H đến để chơi xóc đĩa. Đến khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày, lần lượt T, H và Nguyễn Mạnh T đến nhà anh S. Sau đó, T và H vào tham gia cùng đánh xóc đĩa với các đối tượng, còn Nguyễn Mạnh T đứng xem. Trong quá trình các đối tượng đánh bạc, có Phạm Ngọc V, Lê Văn Nh, Lê Xuân L, Phạm Đình D, Phạm Ngọc C, Phạm Văn Nh, Nguyễn Quang T và Trần Trung K có mặt tại chiếu bạc, đứng xem nhưng không tham gia chơi.

Đến khoảng 0 giờ 30 phút ngày 18/12/2018, trong lúc các đối tượng đang chơi xì tẩy và xóc đĩa ăn tiền thì bị lực lượng Công an huyện Giao Thủy phát hiện và tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Thu giữ tại chiếu đánh xì tẩy gồm các đối tượng S, R, Tr, Nh: Số tiền trên chiếu là 730.000 đồng, số tiền thu trên người các đối tượng là 14.355.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 24 quân bài, 01 chiếu cói, 02 điện thoại. Thu giữ trên chiếu đánh xóc đĩa gồm các đối tượng L, Đ, H, T, B chơi xóc đĩa: Số tiền trên chiếu 11.600.000 đồng, số tiền thu trên người các đối tượng là 23.250.000 đồng, 15 điện thoại di động các loại, 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị hình tròn, 01 chiếu cói. Qua quá trình điều tra, Kiên, Tiến, Phúc giao nộp 03 điện thoại di động các loại. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Ngọc S, Cơ quan điều tra thu giữ 02 bộ bài tú lơ khơ màu đỏ nhãn hiệu DIAMOND chưa qua sử dụng tại khu vực chiếu ngồi đánh xì tẩy thuộc gian bếp nhà anh Sơn.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện Giao Thủy các đối tượng đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên.

Tại chiếu bạc xóc đĩa các đối tượng đã khai nhận:

Phạm Hồng Đ khai nhận: Khi đi mang theo 11.500.000 đồng và sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc;

Vũ Hồng H khai nhận: Khi đi mang theo 5.400.000 đồng và sử dụng 400.000 đồng để đánh bạc;

Phạm Đình H khai nhận: Khi đi mang theo 5.400.000 đồng và sử dụng 400.000 đồng để đánh bạc;

Lê Văn B khai nhận: Khi đi mang theo 150.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc

Phạm Văn L khai nhận: Khi đi mang theo 400.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc;

Phạm Văn P khai nhận: Khi đi mang theo 350.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc;

Tại chiếu bạc chơi xì tẩy các đối tượng đã khai nhận:

Lê Ngọc S khai nhận: Khi đi mang theo 8.100.000 đồng và sử dụng 100.000 đồng để đánh bạc, còn 8.000.000 đồng không sử dụng đánh bạc;

Phạm Trọng R khai nhận: Khi đi mang theo 6.605.000 đồng và sử dụng 250.000 đồng để đánh bạc, còn 6.355.000 đồng không sử dụng đánh bạc;

Phạm Trọng Tr khai nhận: Khi đi mang theo 700.000 đồng, sử dụng hết 200.000 đồng để đánh bạc, còn 500.000 đồng không sử dụng đánh bạc. Khi bị bắt giữ,còn 500.000 đồng đã bỏ cả xuống chiếu bạc.

Tại bản Cáo trạng số 22/CTR ngày 14/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy đã truy tố các bị cáo Phạm Hồng Đ, Phạm Văn L, Lê Văn B, Phạm Đình H, Vũ Hồng H và Phạm Văn P về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi đã tham gia đánh bạc của mình như nội dung trong bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo: Phạm Văn P, Phạm Văn L, Phạm Hồng Đ, Lê Văn B, Phạm Đình H, Vũ Hồng H phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt các bị cáo Phạm Văn P, Phạm Hồng Đ từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn L từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Đình H từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 khoảng 2 Điều 51 Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo Vũ Hồng H từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 khoảng 2 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Lê Văn B từ 09 đến 12 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 12.230.000đ và 03 chiếc điện thoại các bị cáo đã sử dụng vào đánh bạc.

- Tịch thu cho tiêu hủy: 01 bát sứ, 01 đĩa sứ và 04 quân vị, 03 bộ bài lơ khơ, 02 chiếu cói.

Các bị cáo nói lời sau cùng đều nhận thức được bản thân đã phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và được miễn hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ xác định: Khoảng 22 giờ ngày 17/12/2018 các bị cáo Phạm Văn P, Phạm Văn L, Phạm Hồng Đ, Lê Văn B, Phạm Đình H, Vũ Hồng H cùng nhau tụ tập tại nhà anh Lê Ngọc S ở xóm 9, xã H, huyện Giao Thủy để đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa ăn tiền, thì bị lực lượng Công an huyện Giao Thủy phát hiện bắt quả tang. Công an đã thu giữ công cụ dùng để đánh bạc và số tiền 12.000.000 đồng các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc. Do đó các bị cáo Phạm Văn P, Phạm Văn L, Phạm Hồng Đ, Lê Văn B, Phạm Đình H, Vũ Hồng H đã phạm tội: “Đánh bạc”.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội gây ảnh hưởng xấu tới trật tự xã hội. Các bị cáo đều nhận thức được đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hoặc hiện vật khác có giá trị đều vi phạm pháp luật. Do vậy cần phải xử lý các bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính nghiêm khắc của pháp luật và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Để đưa ra mức án phù hợp, Hội đồng xét xử xem xét đánh giá vị trí, vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo trong vụ án như sau:

Các bị cáo phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn; tuy nhiên các bị cáo Phúc, Linh, Điệp là những người lần lượt xóc cái để cho các đối tượng khác cùng đánh bạc nên giữ vai trò cao hơn các bị cáo Bằng, Tuấn, Hiệp.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, ăn năn hối cải, là lao động chính trong gia đình, con còn nhỏ, hoàn cảnh gia đình khó khăn; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Ph, Đ, B, H phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng lên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Qua đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy chưa cần thiết buộc các bị cáo Ph, L, Đ, T, H phải tập trung cải tạo mà phạt tù cho hưởng án treo ấn định thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo hoàn lương. Bởi các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Riêng bị cáo B khi được tại ngoại đang chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội và đang bị giam giữ về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” từ ngày 27/3/2019 đến nay, nên buộc B phải tập trung cải tạo là phù hợp pháp luật. [5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh khó khăn, con còn nhỏ nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu số tiền 12.230.000 đồng các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc (gồm số tiền 11.600.000 đồng trên chiếu xóc đĩa, số tiền 230.000 đồng trên chiếu chơi xì tẩy, số tiền 400.000 đồng thu trên người Phạm Đình H) và 03 chiếc điện thoại di động liên lạc đánh bạc sung quỹ Nhà nước.

- Tịch thu 02 chiếu cói, 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 24 quân, 02 bộ bài tú lơ khơ chưa qua sử dụng, 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị hình tròn cắt từ vỏ bao thuốc lá cho tiêu hủy.

Đối với hành vi chơi bài xì tẩy ăn tiền của các đối tượng Lê Ngọc S, Phạm Trọng R, Phạm Trọng Tr, Phạm Trọng Nh, quá trình điều tra xét thấy chưa đủ mức phải xử lý về hình sự nên Công an huyện Giao Thủy đã xử lý bằng biện pháp hành chính là phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với 20 chiếc điện thoại di động đã thu giữ của các đối tượng, quá trình điều tra xác định, có 03 chiếc điện thoại di động các đối tượng đã sử dụng là công cụ liên lạc đánh bạc, còn lại 17 chiếc điện thoại di động không liên quan đến hành vi đánh bạc, Cơ quan điều tra đã trả lại cho các đối tượng là phù hợp pháp luật.

Đối với tổng số tiền 37.605.000 đồng thu trên người các đối tượng tại 02 chiếu bạc, qua quá trình điều tra xác định có 37.205.000 đồng không sử dụng vào đánh bạc, Cơ quan điều tra đã trả lại cho các đối tượng là phù hợp.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Văn P, Phạm Văn L, Phạm Hồng Đ, Lê Văn B, Phạm Đình H, Vũ Hồng H phạm tội “Đánh bạc”.

1.Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn P, Phạm Hồng Đ mỗi bị cáo 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách của mỗi bị cáo là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án (bị cáo Đ đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2018 đến ngày 09/01/2019).

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn L 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 18/12/2018 đến ngày 27/12/2018).

Xử phạt: Bị cáo Phạm Đình H 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 18/12/2018 đến ngày 27/12/2018).

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Hồng H 09(chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 18/12/2018 đến ngày 27/12/2018).

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn B 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 27/3/2019, được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 18/12/2018 đến ngày 27/12/2018.

Giao các bị cáo Phạn Văn Phúc, Phạm Văn L, Phạm Hồng Đ, Phạm Đình H cho UBND xã Hoành Sơn, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Vũ Hồng H cho UBND xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách (trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự).

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu số tiền 12.230.000 đồng (mười hai triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng) các bị cáo sử dụng để đánh bạc sung quỹ Nhà nước (đã thu giữ tại biên lai thu tiền số 05570 ngày 15/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).

- Tịch thu 3 chiếc điện thoại di động các bị cáo đã sử dụng vào việc liên lạc đánh bạc sung quỹ Nhà nước.

- Tịch thu 02 chiếu cói, 03 bộ bài tú lơ khơ, 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị hình tròn (có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 15/3/2019 giữa Công an huyện Giao Thủy và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy) cho tiêu hủy.

3. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Phạm Văn Ph, Phạm Hồng Đ, Phạm Văn L, Lê Văn B, Phạm Đình H, Vũ Hồng H, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 28/2019/HS-ST ngày 12/04/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:28/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Giao Thủy - Nam Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 12/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về