Bản án 28/2019/HNGĐ-ST ngày 25/04/2019 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 28/2019/HNGĐ-ST NGÀY 25/04/2019 VỀ XIN LY HÔN

Hôm nay, ngày 25 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 2688//2018/TLST – HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2018 về việc “Xin ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1985. Địa chỉ tạm trú: 11/5, tổ 15, khu phố 2, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Bà Ngô Thị O, sinh năm 1980.  Địa chỉ tạm trú: 11/5, tổ 15, khu phố 2, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Địa chỉ liên lạc: Tổ 28, khu phố 2, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Ông Đ, bà O có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 09/10/2018, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê Văn Đ trình bày:

Ông và bà Ngô Thị O xây dựng gia đình năm 2013 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn.

Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2016 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên lục đục, xích mích nhau, cuộc sống vợ chồng có nhiều điểm trái ngược nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn đoàn tụ, ông và bà Ngô Thị O sống ly thân từ tháng 10 năm 2016 cho đến nay. Nay mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được ông xin được ly hôn với bà Ngô Thị O.

Về quan hệ con chung: Ông và bà Ngô Thị O có 01 con chung cháu Lê Thị Kim N, sinh ngày 30/5/2012. Ly hôn, ông Đ ý giao cháu N cho bà Ngô Thị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông chỉ đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000đồng/tháng.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Tại biên bản làm việc ngày 22/02/2019 và tại phiên tòa bị đơn bà Ngô Thị O trình bày:

Bà và ông Lê Văn Đ xây dựng gia đình năm 2013 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn.

Sau khi kết hôn bà và ông Lê Văn Đ chuyển vào sinh sống tại địa chỉ 11/5, tổ 15, khu phố 2, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai từ tháng 4 năm 2013.

Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn tuy nhiên do bà có đạo, ông Đ không có đạo nên khác nhau về phong tục, tư tưởng. Bà và ông Lê Văn Đ sống ly thân từ tháng 9 năm 2016 cho đến nay. Từ khi ly thân cho đến nay ông Đ có đến thăm con chung, có mua sữa cho cháu Ngân, không phụ tài chính nuôi con chung. Nay ông Đ xin ly hôn với bà, tại phiên tòa bà xác định tình cảm không còn, bà đồng ý ly hôn với ông Đ.

Về quan hệ con chung: Ông Lê Văn Đ và bà có 01 con chung cháu Lê Thị Kim N, sinh ngày 30/5/2012. Ly hôn, bà có nguyện vọng được trực tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng cháu N. Ông Đ đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000đồng/tháng, tại phiên tòa bà đồng ý với yêu cầu của ông Đ, yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000đồng/tháng. Cháu N bị bệnh động kinh UG 40, hàng tháng cháu N phải đi điều trị bệnh tại Bệnh viện tâm thần trung ương 2 và Bệnh viện nhi đồng Đồng Nai. Hiện nay bà làm Công nhân tại Công ty Teawang, lương hàng tháng khoảng 7.000.000đồng.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:

Về việc kiểm sát chấp hành pháp luật tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng.

Về việc giải quyết tranh chấp:

- Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa ông Lê Văn Đ và bà Ngô Thị O là hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nên là hôn nhân hợp pháp. Ông Đ trình bày: quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2016 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên lục đục, xích mích nhau, cuộc sống vợ chồng có nhiều điểm trái ngược nhau, sống ly thân từ tháng 10 năm 2016 cho đến nay. Bà O trình bày quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn tuy nhiên do bà O có đạo, ông Đ không có đạo nên khác nhau về phong tục, tư tưởng. Bà O và ông Lê Văn Đ sống ly thân từ tháng 10 năm 2016 cho đến nay. Hôn nhân giữa ông Lê Văn Đ và bà Ngô Thị O đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được ông Lê Văn Đ xin được ly hôn với bà Ngô Thị O, tại phiên tòa bà O xác định tình cảm không còn, bà O đồng ý ly hôn với ông Đ. Căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình: ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Lê Văn Đ và bà Ngô Thị O.

- Về con chung: Ông Lê Văn Đ và bà Ngô Thị O có 01 con chung cháu Lê Thị Kim N, sinh ngày 30/5/2012. Ly hôn, ông Đ đồng ý giao cháu Ngân cho bà Ngô Thị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Đ chỉ đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000đồng/tháng.

Bà Ngô Thị O có nguyện vọng được trực tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng cháu N. Tại phiên tòa bà Ngô Thị O đồng ý với yêu cầu ông Đ, yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000đồng/tháng. Nên ghi nhận.

Giao con chung cháu Lê Thị Kim N, sinh ngày 30/5/2012 cho bà O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000đồng/tháng.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Về án phí: Ông Lê Văn Đ phải chịu theo quy định pháp luật. 

Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 55, Điều 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cầu khởi kiện của Lê Văn Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Văn Đ và bà Ngô Thị O kết hôn vào năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa và đã Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 04/02/2013 đúng theo quy định tại Điều 9, Điều 11, Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Theo ông Đ trình bày: quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2016 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên lục đục, xích mích nhau, cuộc sống vợ chồng có nhiều điểm trái ngược nhau, sống ly thân từ tháng 10 năm 2016 cho đến nay. Bà O trình bày quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn tuy nhiên do bà O có đạo, ông Đ không có đạo nên khác nhau về phong tục, tư tưởng. Bà O và ông Lê Văn Đ sống ly thân từ tháng 10 năm 2016 cho đến nay. Tại phiên tòa bà O xác định tình cảm không còn, bà O đồng ý ly hôn với ông Đ. Nên ghi nhận.

Tại biên bản xác minh ngày 06/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa: Ông Nguyễn Lam tư pháp phường L, thành phố B cung cấp: Ông Lê Văn Đ và bà Ngô Thị O cùng địa chỉ 11/5, tổ 15, khu phố 2, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình sinh sống có phát sinh mâu thuẫn hay không địa phương không nắm rõ vì không báo cho chính quyền địa phương. Về quan hệ con chung, sản chung, nợ chung: đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Xét mâu thuẫn giữa ông Lê Văn Đ và bà Ngô Thị O đã xảy ra, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa bà O xác định tình cảm không còn, bà O đồng ý ly hôn với ông Đ. Nên ghi nhận.

[2] Về con chung: Ông Lê Văn Đ và bà Ngô Thị O có 01 con chung cháu Lê Thị Kim N, sinh ngày 30/5/2012. Ly hôn, ông Đ đồng ý giao cháu N cho bà Ngô Thị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000đồng/tháng. Bà Ngô Thị O có nguyện vọng được trực tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng cháu N. Cháu N bị bệnh động kinh UG 40, hàng tháng cháu N phải đi điều trị bệnh tại Bệnh viện tâm thần trung ương 2 và Bệnh viện nhi đồng Đồng Nai. Từ tháng 9 năm 2016 cho đến nay cháu N sống với bà O, hiện cháu N bị bệnh hàng tháng phải điều trị bệnh tại Bệnh viện tâm thần trung ương 2. Tại phiên tòa bà Ngô Thị O đồng ý với yêu cầu ông Đ, yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng)/tháng. Nên ghi nhận.

Giao cháu Lê Thị Kim N, sinh ngày 30/5/2012 cho bà O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Lê Thị Kim N, sinh ngày 30/5/2012 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Ông Lê Văn Đ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà khơng ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con chung.

[3] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

[4] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Ông Lê Văn Đ phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng định kỳ.

Kể từ ngày bà Ngô Thị O có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Lê Văn Đ chưa thanh toán số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

[7] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa về việc giải quyết tranh chấp và nghĩa vụ chịu án phí của ông Lê Văn Đ là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39, 203, 220, 227, khoản 1 Điều 228, 266, 271 v khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 9, Điều 11, Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. 

Áp dụng Điều 51, 54, 55, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 và Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

XỬ:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn Đ đối với bà Ngô Thị O về việc “Xin ly hôn”.

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Văn Đ và bà Ngô Thị O thuận tình ly hôn.

- Về quan hệ con chung Ông Lê Văn Đ và bà Ngô Thị O có 01 con chung cháu Lê Thị Kim N, sinh ngày 30/5/2012.

Ghi nhận sự thỏa thuận giữa ông Lê Văn Đ và bà Ngô Thị O: Giao cháu Lê Thị Kim N, sinh ngày 30/5/2012 cho bà O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Lê Thị Kim N, sinh ngày 30/5/2012 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Ông Lê Văn Đ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà khơng ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về án phí: Ông Lê Văn Đ phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng định kỳ. Số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm ông Lê Văn Đ nộp theo biên lai số 009846 ngày 05/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai được tính trừ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Ông Lê Văn Đ còn phải nộp tiếp số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bà Ngô Thị O có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Lê Văn Đ chưa thanh toán số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Ông Lê Văn Đ và bà Ngô Thị O có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


72
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 28/2019/HNGĐ-ST ngày 25/04/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:28/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:25/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về