Bản án 28/2018/HS-ST ngày 21/02/2018 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 28/2018/HS-ST NGÀY 21/02/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 21 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2018/TLST- HS ngày 02 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:

Lê Thành T, sinh ngày 18 tháng 12 năm 198X tại Hà Nội; nơi ĐKHKTT: Tổ 47 V.H, quận H.M, thành phố H.N; chỗ ở: Số 10-B143 Tổ 12 T.T, quận H.A, thành phố H.P; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học  vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C và bà Phạm Thị O; có vợ là Nguyễn Thanh X (đã ly thân) và 01 con, hiện đang chung sống cùng chị Đặng Thị V; tiền án (01 tiền án): Án số 49/2014/HSST ngày 25//2014, TAND quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội xử 42 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/02/2017; bị tạm giữ ngày 17/11/2017 chuyển tạm giam ngày 23/11/2017; có mặt.

Người bị hại: Anh Nguyễn Xuân C sinh năm 1984; địa chỉ: T.P 1, xã Đ.K, huyện V.C, tỉnh Y.B; tạm trú tại: Khu dân cư G34 phường A.D, quận D.K, TP. H.P; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ ngày 15/11/2017, Lê Thành T cùng Đỗ Văn H, sinh năm 197Y, đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 6A/36/47/81 P.H.Đ, N.N, quận L.C, H.P rủ nhau đi trộm cắp tài sản. H điều khiển xe mô tô hiệu Nouvo màu đen biển kiểm soát 16M5-593A chở T đến khu vực Q.N, phường K.D, quận L.C, H.P để tìm có nhà nào sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi cả hai đi đến khu vực đường L.V.T A, thì cả hai phát hiện tại bãi đất trống đang thi công xây dựng số 10 L.V.T A có để 01 máy bơm (loại máy bơm hút bùn, nước) là tài sản của anh Nguyễn Xuân C, sinh năm 198Y, đăng ký thường trú tại thôn 1 Đ.K, V.K, Y.B. Quan sát xung quanh thấy không có ai trông coi, T và H bàn bạc trộm cắp tài sản. H bảo T ngồi ở xe chờ, cách vị trí để chiếc máy bơm khoản 04 mét, còn Hùng đi đến chỗ để máy bơm, một lúc  sau H gọi T vào. T đi đến chỗ H thấy H đã tháo rời được 01 chiếc máy bơm nước ra khỏi vị trí ban đầu khoảng 01 mét, sau đó cả hai khênh chiếc máy bơm để lên xe máy rồi mang đi cất giấu tại tổ 17 Đ.H, quận H.A, H.P rồi tiếp tục quay lại trộm cắp tài sản thì bị phát hiện.

Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 101/KL-ĐGTTHS ngày 16/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Lê Chân xác định: giá trị còn lại của 01 chiếc máy bơm đã qua sử dụng là 5.500.000 đồng (Năm triệu, năm trăm nghìn đồng).

Ngày 17/11/2017, Lê Thành T đã bị bắt theo Lệnh bắt khẩn cấp số 01 ngày 17/11/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân và khai nhận hành vi phạm tội như trên. Người bị hại là anh Nguyễn Xuân C đã nhận lại chiếc máy bơm và không có yêu cầu gì.

Ngoài ra T còn khai nhận vào trưa ngày 07/11/2017, T cùng H đã trộm cắp 01 chiếc máy tời mặt đất đã qua sử dụng tại trước cửa nhà số 129 N.K.T, phường K.D, quận L.C, H.P là tài sản của anh Trần Mạnh H, sinh năm 198Z, chỗ ở: 11/181 N.Đ.C, phường C.D, quận L.C, H.P. Do tài sản không thu hồi được và anh H không yêu cầu bồi thường về tài sản bị trộm cắp  nên không đủ căn cứ để định giá tài sản. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tách khỏi vụ án, tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Chiếc xe mô tô hiệu Nouvo màu đen BKS 16M5-5931 thu giữ được là xe của chị Đặng Thị V, sinh năm 199M, trú tại số 105/229 H.K, L.C, H.P (là người chung sống với T tại số 10 - B143 Tổ 12 T.T, quận H.A, H.P. Khi T sử dụng xe mô tô trên đi trộm cắp tài sản không nói cho V biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho chị V.

- Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKSLC ngày 30 tháng 01 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố Lê Thành T về tội “Trộm cắp tài sản” theo  khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đối với đối tượng Đỗ Văn H, sinh năm 197T, đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 6A/36/47/81 P.H.Đ, phường N.N, quận L.C, H.P hiện vắng mặt tại địa phương. Ngoài lời khai của T chưa thu thập được tài liệu nào khác nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

- Tại phiên tòa, Lê Thành T đã khai nhận hành vi phạm tội như trên; bị cáo cho rằng H là người thuê trọ cạnh nhà thấy bị cáo đang nghỉ chờ việc nên rủ đi trộm cắp. Các vật chứng trong cốp xe có hai chiếc kìm của H còn lại là đồ sửa xe máy của bị cáo đã hết giá trị sử dụng nên đề nghị tiêu hủy các vật chứng đó.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; xử phạt: Lê Thành Tr từ 18 đến 24 tháng tù.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng còn lại của vụ án do đã hết giá trị sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều cơ bản bảo đảm đúng qui định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị hại; nội dung bản Kết luận định giá; vật chứng thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa. Như vậy đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 03 giờ ngày 15/11/2017, Lê Thành T có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc máy bơm trị giá 5.500.000 đồng tại khu vực nhà số 10 đường L.V.T A, phường K.D, quận L.C, H.P nên đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” .

[3]. Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp trước thời điểm 0 giờ ngày 01/01/2018 (ngày Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực); căn cứ khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; tội “Trộm cắp tài sản” qui định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt nhẹ hơn Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 nên được áp dụng có lợi cho bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân truy tố  bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Nhưng cũng xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng do tài sản bị cáo chiểm đoạt đã thu hồi nguyên vẹn, thái độ khai báo thành khẩn.

[5]. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích; án số 49/2014/HSST ngày 25/7/2014 , TAND quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội xử 42 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/02/2017 nên lần phạm tội này bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

[6]. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là; phạm tội chưa gây thiệt hại (điểm h) do tài sản trộm cắp có giá trị không lớn và đã được thu hồi nguyên vẹn và thành khẩn khai báo (điểm s)

[7]. Về hình phạt: Bị cáo nhân thân xấu, vừa chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương lại tiếp tục phạm tội; phải chịu 01 tình tiết tăng nặng và được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ, nên cần thiết phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Mức hình phạt theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét.

[9]. Về xử lý vật chứng: 01 dao kim loại tự chế; 01 đèn pin màu đen; 01 bơm xe mini cầm tay màu đen; 01 kìm cắt kim loại mũi nhọn; 01 kìm bấm kim loại tay cầm bọc nhựa màu vàng; 01 kìm kim loại tay cầm bọc nhựa màu đỏ đen; 01 kìm cắt kim loại tay bọc nhựa màu đen; 04 cờ lê kim loại các cỡ khác nhau; 01 tuốc-nơ- vít chuôi cầm bọc nhựa; 02 thanh kim loại dài 18cm, một đầu được mài mỏng; 01 bộ dụng cụ sửa xe máy đựng trong 01 túi vải da màu đen liên quan đến mục đích trộm cắp tài sản hoặc không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[10]. Đối với hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc máy tời mặt đất của anh Trần Mạnh H tại nhà số 129 N.K.T, K.D quận L.C, H.P, do hiện tại chưa thu hồi được vật chứng, kết luận định giá không xác định được trị giá tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tiếp tục làm rõ xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

[11]. Đối với đối tượng Đỗ Văn H, sinh năm 197T, đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 6A/36/47/81 P.H.Đ, phường N.N, quận L.C, H.P hiện vắng mặt tại địa phương. Ngoài lời khai của T chưa thu thập được tài liệu nào khác nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

[12]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo Lê Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

- Căn cứ khoản 1 Điều 173, các điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội;

- Xử phạt bị cáo Lê Thành T 18 (mười tám) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2017.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 dao kim loại tự chế; 01 đèn pin màu đen; 01 bơm xe mini cầm tay màu đen; 01 kìm cắt kim loại mũi nhọn; 01 kìm bấm kim loại tay cầm bọc nhựa màu vàng; 01 kìm kim loại tay cầm bọc nhựa màu đỏ đen; 01 kìm cắt kim loại tay bọc nhựa màu đen; 04 cờ lê kim loại các cỡ khác nhau; 01 tuốc-nơ-vít chuôi cầm bọc nhựa; 02 thanh kim loại dài 18cm, một đầu được mài mỏng; 01 bộ dụng cụ sửa xe máy đựng trong 01 túi vải da màu đen (theo biên bản ban giao vật chứng ngày 31/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Lê Chân).

- Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


130
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về