Bản án 28/2018/HS-ST ngày 03/04/2018 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 28/2018/HS-ST NGÀY 03/04/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 03 tháng 4 năm 2018 tại Hội trường Toà án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2018/TLST- HS ngày 02 tháng 3 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2018/QĐXXST - HS ngày 22 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN C; sinh ngày 11/7/1981; Tại huyện K, tỉnh H; Nơi cư trú : Thôn L, xã H, huyện K, tỉnh H; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao đông tự do ; Dân tộc Kinh; Giới tính : Nam; Tôn giáo : Không; Quốc tịch : Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1953 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1954; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: ngày 27/11/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Ngày 20/7/2016, bị Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phát 15 (Mười năm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999, đến ngày 01/4/2017 chấp hành xong trở về địa phương; Tiền sự : Không.

Nhân thân: Ngày 26/7/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Bị bắt quả tang ngày15/01/2018, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã Đông Triều, tỉnh QuảngNinh, có mặt.

 -Bị hạiChị Bùi Thị L (tên gọi khác Liên), sinh năm 1983, nơi cư trú : Khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt

- Người làm chứng :

1/ Anh Nguyễn Văn C; sinh năm 1970; nơi cư trú Khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt

2/ Chị Nguyễn Thị Ngọc L; sinh năm 1999; nơi cư trú Thôn L, xã T, huyện V, tỉnh Y, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 15/01/2018, Nguyễn Văn C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA - NOUVO LX, biển kiểm soát 34P2-0346 đến quán cà phê “Phương Liên” của chị Bùi Thị L, sinh năm 1983, ở khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Khi vào trong quán, thấy chủ quán đang chùm chăn ngủ tại ghế ở phòng khách, phía dưới gầm bàn uống nước tại phòng khách có 01 (một) chiếc ví giả da màu đen. Lợi dụng sơ hở, C liền lấy chiếc ví bỏ vào túi áo khoác đang mặc trên người rồi đi ra ngoài cửa quán.Ngay lúc đó chị L tỉnh dậy phát hiện và đuổi theo C giằng co để lấy lại chiếc ví, C dùng mũ bảo hiểm đang để ở xe mô tô đập 02 (hai) cái vào đầu chị L nhằm mục đích bỏ chạy. Sau đó chị L hô hoán và cùng một số người dân bắt giữ được C, kiểm tra và thu giữ trong áo khoác của C 01 (một) chiếc ví giả da màu đen bên trong có số tiền 2.100.000đ (Hai triệu một trăm nghìn đồng); Sau đó Công an phường M, thị xã Đ đã lập biên bản bắt giữ đối với C và tạm giữ các vật chứng gồm ví tiền, xe mô tô YAMAHA-NOUVO LX, biển kiểm soát 34P2-0346, mũ bảo hiểm mô tô rồi bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô biển kiểm soát 34P2 - 0346 là do C mượn của của anh Mạc Đức T, sinh năm 1973, trú tại thôn T, xã H, huyện K, tỉnh H, anh T không biết C sử dụng xe vào việc phạm tội. Nên cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô cho anh T; Đối với chiếc ví giả da theo lời khai của chị L chiếc ví đã cũ, giá trị không đáng kể ngày 08/02/2018 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều đã trả lại chiếc ví cùng số tiền 2.100.000đ (Hai triệu một trăm nghìn đồng) cho chủ sở hữu. Riêng chiếc mũ bảo hiểm xe mô tô là vật chứng của vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều để bảo quản theo quy định của pháp luật.

Bản cáo trạng số 27/CT-VKS-ĐT ngày 01/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều-tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội: “Trộm cắp tài sản ” theo quy định tại khoản các điểm đ, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm luận tội như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng điểm đ, g khoản 2 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 30 đến 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 15/01/2018. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh rêu, trước mũ và sau mũ đều in dòng chữ “HCKT.’ Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện, đầy đủ chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn C tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình như phần nội dung vụ án” đã nêu. Bị cáo xác định hành vi mà bị cáo đã thực hiện là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; Phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an thị xã Đông Triều lập hồi 16 giờ ngày 15/01/2018 và lời khai của người bị hại chị Bùi Thị L; Lời khai của những người làm chứng anh Nguyễn Văn C, chị Nguyễn Thị Ngọc L. Ngoài ra hành vi của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác như: Sơ đồ hiện trường; Bản ảnh khám nghiệm hiện trường do Công an thị xã Đông Triều lập ngày 15/01/2018, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa như vậy có đủ căn cứ để khẳng định : Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 15/01/2018, tại quán cà phê “Phương Liên” của chị Bùi Thị L, sinh năm 1983, thuộc khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Văn C đã có hành vi nén lút chiếm đoạt 2.100.000đ (Hai triệu một trăm nghìn đồng); Khi chị L phát Hiện giằng co để bắt giữ thì C đã dùng mũ bảo hiểm xe mô tô đánh hai nhát vào đầu chị L nhằm mục đích tẩu thoát, thì bị chị L và quần chúng nhân dân bắt giữ.

[2] Từ những chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C đã phạm tội :“Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm đ, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì hành vi ấy không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân đối với việc quản lý bảo vệ tài sản. Bị cáo là người đã trưởng thành có hiểu biết xã hội, nhận thức được việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng lười lao động, ham chơi đua đòi thiếu ý thức tu dưỡng rèn luyện nên đã đi vào con đường phạm tội. Bị cáo đã lợi dụng lúc chị L sơ hở để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, điều đó thể hiện sự ngông cuồng, coi thường pháp luật của bị cáo. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu đã bị cơ quan pháp luật xử lý rất nhiều lần về hành vi “Trộm cắp tài sản” cụ thể : Năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Năm 2013 Bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Ngày 20/7/2016, bị Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phát 15 (Mười năm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999, đến ngày 01/4/2017 chấp hành xong trở về địa phương; Bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện mà lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội, chưa được xoá án tích, bản án trước chưa đủ để bị cáo tiếp thu sự giáo dục, cải tạo của cơ quan pháp luật, mắc dù số tiền bị cáo chiếm đoạt không lớn, nhưng lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Ngoài ra bị cáo còn dùng mũ bảo hiểm xe mô tô đánh hai nhát vào đầu chị L nhằm mục đích tẩu thoát nên bị cáo phải chịu hai tình tiết định khung quy định tại điểm đ, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Nên cần phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới tương xứng đúng mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời mới có tác dụng đấu tranh phòng chống tội phạm chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xét: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức được sai phạm, tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu, nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt, để bị cáo thấy được sự khoan hồng trong chính sách hình sự của pháp luật Nhà nước ta.

[4] Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự phạt bị cáo một khoản tiền để sung quỹ nhà nước. Nhưng cũng xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và tài sản riêng. Nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Xét thiệt hại và trách nhiệm dân sự : Tài sản bị cáo trộm cắp của Chị L đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết trong bản án này.

Đối với chiếc mũ bảo hiểm màu xanh rêu, trước mũ và sau mũ đều in dòng chữ “HCKT’ bị cáo dùng hành hung chị L để tẩu thoát, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều. Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều. Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên ;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào điểm đ, g khoản 2 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

- Xử phạt Nguyễn Văn C 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 15/01/2018.

- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm màu xanh rêu, trước mũ và sau mũ đều in dòng chữ “HCKT’. (Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã Đông Triều và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều ngày 02/3/2018).

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc Nguyễn Văn C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơthẩm

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo, biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người bị hại chị Bùi Thị L báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết công khai bản án

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

153
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 28/2018/HS-ST ngày 03/04/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:28/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Đông Triều - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:03/04/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về