Bản án 28/2018/HNGĐ-ST ngày 04/07/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 28/2018/HNGĐ-ST NGÀY 04/07/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 04 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:41/2018/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:25/2018/QĐXX-ST ngày 25 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Hồ Thị Kim C, sinh năm 1962.

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Phan Ngọc D1, sinh năm 1964.

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

(Tại phiên tòa có mặt bà C, vắng mặt ông D1)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Hồ Thị Kim C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phan Ngọc D1 sống chung với nhau năm 1995, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/7/2004. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông D1 không lo làm ăn, cờ bạc, bán hết tài sản trong nhà để trả nợ nhưng ông D1 vẫn không sửa đổi, ông D1 hoàn toàn không quan tâm gì đến cuộc sống gia đình, bà và ông D1 đã không còn sống chung hơn 02 năm nay. Bà nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà và ông D1 không thể hàn gắn được nữa nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Phan Ngọc D1.

Về con chung: Bà và ông Phan Ngọc D1 có một con chung tên là Phan Ngọc D2, sinh ngày 12/3/1996. Con chung của ông bà đã thành niên nên khi ly hôn bà không yêu cầu giải quyết về việc nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà và ông Phan Ngọc D1 không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Đối với bị đơn ông Phan Ngọc D1: Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến khi mở phiên tòa, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn, gửi bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ ông Phan Ngọc D1 nhiều lần nhưng ông D1 vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.

* Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Hồ Thị Kim C giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông Phan Ngọc D1.

Bị đơn ông Phan Ngọc D1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đương sự có mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Hồ Thị Kim C tranh chấp yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Phan Ngọc D1 có nơi cư trú tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Xét bị đơn ông Phan Ngọc D1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Kim C và ông Phan Ngọc D1 sống chung có đăng ký kết hôn năm 2004, được pháp luật công nhận là vợ chồng. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bà C cho rằng ông D1 không lo làm ăn, ham mê cờ bạc, không quan tâm đến cuộc sống gia đình. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh hơn mười năm nay, bà và gia đình hai bên đã cố gắng khuyên ngăn nhưng ông D1 vẫn không thay đổi, bà và ông D1 đã không còn sống chung hơn 02 năm nay. Quá trình ly thân ông, bà hoàn toàn không liên hệ hay quan tâm gì đến cuộc sống của nhau. Tòa án đã tổ chức hòa giải đoàn tụ nhưng ông D1 không đến tham gia hòa giải. Điều đó chứng tỏ tình cảm vợ chồng giữa bà C và ông D1 không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hồ Thị Kim C.

[4] Về con chung: Bà Hồ Thị Kim C và ông Phan Ngọc D1 có một con chung tên là Phan Ngọc D2, sinh ngày 12/3/1996, con chung của ông bà đã thành niên, có thể tự lao động nuôi sống bản thân, bà C không yêu cầu giải quyết về việc nuôi con khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hồ Thị Kim C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Kim C được ly hôn với ông Phan Ngọc D1.

2. Về con chung: Không xem xét.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hồ Thị Kim C phải chịu 300.000đồng án phí sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí bà Hồ Thị Kim C đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 19171 ngày 12/3/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang. Bà C đã nộp xong án phí.

5. Về quyền kháng cáo:

Bà Hồ Thị Kim C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Ông Phan Ngọc D1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


43
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 28/2018/HNGĐ-ST ngày 04/07/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:28/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Phước - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 04/07/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về