Bản án 280/2018/DS-PT ngày 20/08/2018 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 280/2018/DS-PT NGÀY 20/08/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI

Ngày 20 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 142/2018/TLPT-DS ngày 03/7/2018 về việc tranh chấp: “Hợp đồng góp hụi”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 50/2018/DS-ST ngày 15/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 203/2018/QĐ-PT ngày 10/7/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phùng Thị O, sinh năm 1968, (có mặt); Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1953, (có mặt); Địa chỉ: Ấp G, xã H, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích của bị đơn: Ông Nguyễn Trà Duy L – Luật sư, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Tiền Giang, (có mặt);

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phùng Thị H, sinh năm 1972, (vắng mặt); Địa chỉ: Ấp G, xã H, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

4. Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo án sơ thẩm:

*Nguyên đơn – Chị Phùng Thị O trình bày: Bà Đ có tham gia góp hụi do chị làm đầu thảo, cụ thể như sau:

- Dây hụi mở ngày 10/7/2014 âm lịch đến ngày 10/10/2016 âm lịch kết thúc, hụi 2.000.000 đồng/tháng/phần, gồm 28 phần, bà Đ tham gia 01 phần. Ngày 10/9/2014 âm lịch, bà Đ hốt hụi với số tiền 37.000.000 đồng. Chị đã giao đủ cho bà Đ số tiền này theo biên nhận ngày 20/9/2014 âm lịch. Sau khi hốt hụi, bà Đ góp hụi chết đến ngày 10/5/2016 âm lịch thì ngưng nên còn nợ số tiền: 05 tháng x 2.000.000 đồng/tháng/phần = 10.000.000 đồng.

- Dây hụi mở ngày 15/01/2015 âm lịch đến ngày 15/4/2017 âm lịch kết thúc, hụi 2.000.000 đồng/tháng/phần, gồm 28 phần, bà Đ tham gia 01 phần. Ngày 15/5/2015 âm lịch, bà Đ hốt hụi với số tiền 37.740.000 đồng. Chị đã giao đủ cho bà Đ số tiền này theo biên nhận ngày 25/5/2015 âm lịch. Sau khi hốt hụi, bà Đ góp hụi chết ngày 15/4/2016 âm lịch thì ngưng nên còn nợ số tiền: 12 tháng x 2.000.000 đồng/tháng/phần = 24.000.000 đồng.

- Dây hụi mở ngày 25/6/2015 âm lịch đến ngày 25/7/2017 âm lịch kết thúc, hụi 2.000.000 đồng/tháng/phần, gồm 26 phần, bà Đ tham gia 01 phần.

Ngày 25/3/2016 âm lịch, bà Đ hốt hụi với số tiền 37.600.000 đồng. Chị đã giao đủ cho bà Đ số tiền này theo biên nhận ngày 05/4/2016 âm lịch. Sau khi hốt hụi, bà Đ không góp hụi chết nên còn nợ số tiền: 16 tháng x 2.000.000 đồng/tháng/phần = 32.000.000 đồng.

Tổng cộng các phần hụi trên, bà Đ còn nợ chị số tiền: 10.000.000 đồng + 24.000.000 đồng + 32.000.000 đồng = 66.000.000 đồng, yêu cầu bà Đ trả lại chị số tiền này một lần, khi án có hiệu lực pháp luật.

* Bị đơn - bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Bà có tham gia góp hụi do chị O và chị H cùng làm đầu thảo. Chị H là người gom tiền hụi hàng tháng của bà. Chị O là người trực tiếp giao tiền hốt hụi và đưa biên nhận giao tiền hụi cho bà ký tên. Cụ thể như sau:

- Dây hụi mở ngày 10/7/2014 âm lịch đến ngày 10/10/2016 âm lịch kết thúc, hụi 2.000.000 đồng/tháng/phần, gồm 28 phần, bà tham gia 01 phần. Ngày 10/9/2014 âm lịch, bà hốt hụi được bao nhiêu tiền bà không nhớ. Chị O là người trực tiếp giao tiền hụi cho bà và bà có ký tên vào biên nhận ngày 20/9/2014 âm lịch. Sau đó, bà góp lại 05 tháng hụi chết còn lại của phần hụi này cho chị H. Chị H có viết chữ “Rồi” vào sổ theo dõi hụi của cá nhân bà. Ngoài ra, giữa bà và chị H không có làm biên nhận gì về việc bà có đưa cho chị H 05 tháng hụi chết của phần hụi này là 10.000.000 đồng. Do đó, phần hụi này bà đã góp hụi chết đầy đủ nên không còn nợ 10.000.000 đồng như chị O yêu cầu.

- Dây hụi mở ngày 15/01/2015 âm lịch đến ngày 15/02/2017 âm lịch kết thúc, hụi 2.000.000 đồng/tháng/phần, gồm 26 phần (không phải 28 phần như chị O trình bày), bà tham gia 01 phần. Ngày 15/5/2015 âm lịch, bà hốt hụi được bao nhiêu tiền bà không nhớ. Chị O là người trực tiếp giao tiền hụi cho bà và bà có ký tên vào biên nhận ngày 25/5/2015 âm lịch. Sau khi hốt hụi, bà có góp lại hụi tháng và hụi tuần cho chị H (vì ngoài tham gia góp hụi tháng với chị O và chị H, bà còn tham gia góp hụi tuần do chị H làm đầu thảo). Bà không nhớ đã góp hụi chết đến tháng nào thì ngưng, bà chỉ nhớ còn nợ lại 10 tháng hụi chết, không phải 12 tháng như chị O yêu cầu.

- Dây hụi mở ngày 25/6/2015 âm lịch đến ngày 25/7/2017 âm lịch kết thúc, hụi 2.000.000 đồng/tháng/phần, gồm 26 phần, bà tham gia 01 phần. Ngày 25/3/2016 âm lịch, bà hốt hụi được bao nhiêu tiền bà không nhớ. Chị O là người trực tiếp giao tiền hụi cho bà và bà có ký tên vào biên nhận ngày 05/4/2016 âm lịch. Sau khi hốt hụi, bà có góp lại hụi tháng và hụi tuần cho chị H. Nay bà chỉ nhớ còn nợ lại 14 tháng hụi chết, không phải 16 tháng như chị O yêu cầu.

Chị O yêu cầu bà trả lại số tiền hụi tổng cộng 66.000.000 đồng là không đúng. Bà chỉ đồng ý trả cho chị O số tiền nợ hụi của dây hụi mở ngày 15/01/2015 âm lịch là 10 tháng và dây hụi mở ngày 25/6/2015 âm lịch là 14 tháng, tổng cộng là 24 tháng hụi chết của 02 phần hụi 2.000.000 đồng nhưng bà chỉ đồng ý trả với mức hụi sống là 1.350.000 đồng/tháng/phần, không đồng ý trả bằng mức hụi chết 2.000.000 đồng/tháng/phần, cụ thể: 24 tháng x 1.350.000 đồng = 32.400.000 đồng, xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng đến khi hết nợ.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – chị Phùng Thị H: đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng theo quy định nhưng đều vắng mặt không có lý do.

*Tại bản án dân sự sơ thẩm số 50/2018/DS-ST ngày 15/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 471, 357 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 30 Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị O.

Buộc bà Nguyễn Thị Đ có nghĩa vụ trả cho chị Phùng Thị O số tiền là 66.000.000 đồng, trả một lần, khi án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần nghĩa vụ chậm trả, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.

Ngày 30/5/2018, bị đơn bà Nguyễn Thị Đ kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng hủy bản án sơ thẩm vì chưa xem xét đầy đủ quyền lợi của bà.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Đ giữ nguyên yêu cầu kháng cáo là yêu cầu cấp phúc thẩm xử theo hướng hủy án sơ thẩm. Chị Phùng Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt chị H.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Đ có nhiều lập luận cho rằng: án sơ thẩm vi phạm về nội dung và tố tụng đề nghị hủy án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phát biểu quan điểm: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử phúc thẩm tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự chấp hành đúng pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đ

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua nghiên cứu toàn bộ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ kiện, yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Đ, nghe các bên đương sự trình bày trước tòa. Qua tranh luận và nghe Luật sư, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến.

1. Hội đồng xét xử nghị án và nhận thấy án sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” là có căn cứ”.

2. Về nội dung vụ kiện: Chị O yêu cầu bà Đ trả lại số tiền hụi còn nợ tổng cộng là 66.000.000 đồng gồm: dây hụi mở ngày 10/7/2014 (âm lịch) là 5 tháng x 2.000.000 đồng/tháng/phần = 10.000.000 đồng, dây hụi mở ngày 15/01/2015 (âm lịch) là 12 tháng x 2.000.000 đồng/tháng/phần = 24.000.000 đồng, dây hụi mở ngày 25/6/2015 (âm lịch) là 16 tháng x 2.000.000 đồng/tháng/phần = 32.000.000 đồng.

Phía bà Đ thừa nhận có chơi hụi do chị O làm chủ thảo nhưng không thống nhất về số tiền nợ hụi, cụ thể dây hụi mở ngày 10/7/2014 (âm lịch) bà Đ cho rằng góp đủ 05 tháng hụi chết cho chị H và chị H có viết tay chữ “Rồi” vào sổ theo dõi hụi cá nhân bà nên bà không có nợ chị O 05 tháng hụi với số tiền 10.000.000 đồng như chị O yêu cầu nên bà không đồng ý trả. Dây hụi mở ngày 15/5/2015 (âm lịch), bà còn nợ lại 10 tháng hụi chết chứ không phải 12 tháng như chị O yêu cầu và dây hụi mở ngày 25/6/2015 (âm lịch) bà còn nợ lại 14 tháng hụi chết, không phải 16 tháng như chị O yêu cầu. Tổng cộng bà còn nợ chị O 24 tháng hụi chết (hụi 2.000.000 đồng/tháng/phần).

Án sơ thẩm căn cứ vào chứng cứ bà Đ cung cấp có một số giấy photo từ sổ theo dõi hụi của cá nhân bà (bút lục 36-41) để chứng minh 03 dây hụi trên bà chỉ còn nợ 24 tháng hụi chết nhưng trong các giấy tờ này nội dung không rõ ràng, không thể hiện được người giao, người nhận tiền gì? Số tiền cụ thể là bao nhiêu, đồng thời các giấy tờ này là bản photo nên không được xem xét là chứng cứ. Ngoài ra bà Đ còn khai rằng khi bà hốt hụi có góp lại hụi chết cho chị H ở dây hụi mở ngày 15/01/2015 (âm lịch) góp đủ 05 phần là 10.000.000 đồng, 02 phần còn lại bà có góp hụi chết nhưng không nhớ rõ bao nhiêu vì thời gian quá lâu nhưng bà cũng không có cung cấp được chứng cứ gì chứng minh.

Từ những căn cứ trên án sơ thẩm xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị O, buộc bà Nguyễn Thị Đ có nghĩa vụ trả cho chị Phùng Thị O số tiền 66.000.000 đồng là có căn cứ.

Sau khi xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Đ có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm xử theo hướng hủy án. Tại Tòa phúc thẩm, bà Đ giữ nguyên yêu cầu kháng cáo là yêu cầu cấp phúc thẩm xử hủy án sơ thẩm. Xét yêu cầu kháng cáo của bà Đ là không có căn cứ để chấp nhận. Bởi lẽ qua xét hỏi tại tòa, bà Đ cho rằng chị H chủ hụi chứ không phải chị O chủ hụi nên bà không có nợ chị O, chỉ nợ chị H nhưng bà Đ không có chứng cứ chứng minh là chị H chủ hụi và nợ hụi chị H. Song, căn cứ vào biên bản hòa giải (bút lục 51) bà Đ thừa nhận còn nợ chị O 24 tháng tiền hụi chết, bà xin trả hụi vốn là 32.400.000 đồng nhưng xin trả dần mỗi tháng 2.700.000 đồng cho đến khi hết nợ. Phía chị O không đồng ý cho trả vốn và trả dần. Do đó, án sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị O, buộc bà Đ trả tiền nợ hụi cho chị O 66.000.000 đồng là có căn cứ cần được giữ nguyên án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đ.

Xét đề nghị của Luật sư trái với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 147, Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ 471, Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 30 Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ khoản 2 Điều 26; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Đ.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 50/2018/DS-ST ngày 15/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị O.

Buộc bà Nguyễn Thị Đ có nghĩa vụ trả cho bà Phùng Thị O số tiền hụi là 66.000.000 đồng khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày chị O có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Đ chậm trả khoản tiền nêu trên thì hàng tháng bà Đ còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

2. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 3.300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Bà Đ đã nộp tạm ứng 300.000 đồng theo biên lai số 45678 ngày 30/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện G nên bà Đ còn phải nộp tiếp 3.300.000 đồng nữa.

Hoàn lại cho chị Phùng Thị O 1.650.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 45359 ngày 04/12/2017 của Chi cục Thi hành án huyện G.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


61
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 280/2018/DS-PT ngày 20/08/2018 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

Số hiệu:280/2018/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 20/08/2018
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về