Bản án 275/2019/HSST ngày 21/10/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 275/2019/HSST NGÀY 21/10/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 21 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 270/2019/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 270/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lương Khánh H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 17 tháng 12 năm 1982; Tại tỉnh Thanh Hóa. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Buôn N, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Nơi cư trú: đường H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Con ông: Lương Thái H1 và bà Đào Thị H2; bị cáo chưa có chồng; Bị cáo có một con sinh năm 2001. Tiền sự: Không; Tiền án: 01.

Ngày 17 tháng 5 năm 2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số: 123/2018/HSST.

Nhân thân: Ngày 30 tháng 6 năm 2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số: 225/2009/HSST. Ngày 23/6/2010 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, bị cáo đã được xóa án tích.

Ngày 25 tháng 8 năm 2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số: 224/2011/HSST. Ngày 28/7/2012 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, bị cáo đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt ngày 23/8/2019, hiện đang tạm giam-có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

1. Anh Nguyễn Thoại T, sinh năm 1988 - có mặt Địa chỉ: Đường V, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Phạm Văn C, sinh năm 1985 - vắng mặt Địa chỉ: Thôn M, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

2. Chị Lương Mỹ D, sinh năm: 1986 - vắng mặt Địa chỉ: đường H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 16 giờ ngày 17/8/2019, Lương Khánh H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số: 47R4-1227, đi trên các tuyến đường thuộc địa bàn thành phố B, tìm người dân sơ hở trong việc quản lý tài sản thì trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng. Khi đi đến nhà anh Nguyễn Thoại T, tại địa chỉ: Đường V, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thấy cửa cổng và cửa nhà mở, không có người trong nhà nên H dừng xe ngoài cửa cổng rồi đi bộ vào trong nhà tìm kiếm tài sản trộm cắp. H thấy trong phòng ngủ thứ hai, hướng từ ngoài cửa chính vào có 01 giỏ xách màu xanh, bên trong có: 01 chiếc máy tính bảng Ipad Air, nhãn hiệu Apple, dung lượng 16GB, màu bạc, ốp vỏ màu xanh; 01 chiếc ví da nam, màu nâu, số tiền 4.000.000 đồng và một số giấy tờ của anh Nguyễn Thoại T. Thấy vậy, H lén lút trộm cắp chiếc Ipad Air và chiếc ví, rồi đi ra ngoài điều khiển xe mô tô tẩu thoát. Sau đó, Lương Khánh H mang chiếc máy tính bảng Ipad Air, nhãn hiệu Apple, đến cửa hàng điện thoại C Mobile, tại địa chỉ: Thôn M, xã E, thành phố B, bán cho anh Phạm Văn C, là chủ cửa hàng được số tiền 1.500.000 đồng, rồi tiêu xài và mua ma túy sử dụng hết, thì bị Cơ quan điều tra phát hiện, tạm giữ của Lương Khánh H: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số:

47R4-1227.

Ngày 23/8/2019, anh Phạm Văn C đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 chiếc máy tính bảng Ipad Air, nhãn hiệu Apple, dung lượng 16GB, màu bạc, ốp vỏ màu xanh, để phục vụ công tác điều tra.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 254/KLĐG ngày 19/9/2019, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự thành phố Buôn Ma Thuột, kết luận: 01 máy tính bảng Ipad Air, nhãn hiệu Apple, dung lượng 16GB, màu bạc, ốp vỏ màu xanh, trị giá 3.800.000 đồng; 01 ví da nam, màu nâu, không rõ nhãn hiệu, trị giá: 10.000 đồng;Tổng giá trị tài sản là: 3.810.000 đồng (ba triệu tám trăm mười nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số: 287/CT-VKSTPBMT ngày 30/9/2019, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố Lương Khánh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lương Khánh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lương Khánh H mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46, Điều 48 của Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 589 của Bộ luật dân sự; Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 4.000.000 đồng. Truy thu xung công quỹ Nhà nước 1.510.000 đồng từ Lương Khánh H.

Về xử lý vật chứng: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho chị Lương Mỹ D 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số: 47R4-1227 và trả cho anh Nguyễn Thoại T 01 máy tính bảng Ipad Air, hiệu Apple, dung lượng 16GB, là các chủ sở hữu.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, anh Nguyễn Thoại Tyêu cầu Lương Khánh H phải bồi thường số tiền 4.000.000 đồng và không yêu cầu H bồi thường trị giá chiếc ví da, màu nâu và chi phí làm lại các giấy tờ cá nhân. Quá trình điều tra, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lương Mỹ D xác định đã nhận lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47R4-1227 và không có yêu cầu gì khác; Anh Phạm Văn C xác định không yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh C 1.500.000 đồng và không có yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột truy tố đối với bị cáo Lương Khánh H là có cơ sở, đúng pháp luật.

Như vậy đã có đủ căn cứ pháp lý kết luận: Vào khoảng 16h00’ ngày 17/8/2019, tại nhà anh Nguyễn Thoại T – Đường V, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Lương Khánh H đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc máy tính bảng Ipad Air, nhãn hiệu Apple, dung lượng 16GB, màu bạc, ốp vỏ màu xanh; 01 chiếc ví da nam màu nâu, số tiền 4.000.000 đồng và một số giấy tờ của anh Nguyễn Thoại T; Tổng trị giá: 7.810.000 đồng.

Như vậy, hành vi của bị cáo Lương Khánh H thực hiện đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:… ” [2] Lương Khánh H là công dân có đủ khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của bản thân trong cuộc sống, buộc bị cáo phải biết được tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi trái pháp luật xâm phạm đến đều bị trừng trị nghiêm minh. Song do ý thức coi thường pháp luật, tham lam tư lợi, lười lao động và nghiện chất ma túy nên bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người bị hại, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an của xã hội; Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù, cách ly bị cáo với xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo việc cải tạo, giáo dục bị cáo và để đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách hiệm hình sự: Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp tái phạm; Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; Do đó, cần xem xét tăng hình phạt khi lượng hình đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Buộc Lương Khánh H bồi thường cho anh Nguyễn Thoại T số tiền 4.000.000 đồng là số tiền mà bị cáo đã trộm cắp của anh T. Đối với số tiền 1.500.000 đồng và giá trị chiếc ví giá trị 10.000 đồng, anh C và anh T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên cần truy thu sung công quỹ Nhà nước.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với chị Lương Mỹ D là chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số: 47R4-1227 cho bị cáo mượn xe, nhưng chị D không biết bị cáo sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp, nên Công an Thành phố Buôn Ma Thuột không đề cập xử lý đối với chị D mà ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho chị Dung là phù hợp nên chấp nhận.

[8] Đối với anh Phạm Văn C, là người đã mua chiếc máy tính bảng Ipad Air, nhãn hiệu Apple, dung lượng 16GB, màu bạc, ốp vỏ màu xanh từ Lương Khánh H, nhưng anh C không biết tài sản trên do H trộm cắp mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, không đề cập xử lý là phù hợp.

[9] Đối với người bán ma túy cho bị cáo sử dụng, quá trình điều tra chưa xác minh được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột tách ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh, xử lý sau là phù hợp.

[10] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lương Khánh H, Công an thành phố Buôn Ma Thuột ra Quyết định xử lý hành chính bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp.

[11] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[12] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lương Khánh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lương Khánh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt (23/8/2019).

* Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 46, Điều 48 của Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 589 của Bộ luật dân sự.

- Buộc bị cáo Lương Khánh H bồi thường cho anh Nguyễn Thoại T số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).

*Về xử lý vật chứng: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho chị Lương Mỹ D 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số: 47R4-1227 và trả cho anh Nguyễn Thoại T 01 chiếc máy tính bảng Ipad Air, nhãn hiệu Apple.

Truy thu xung công quỹ Nhà nước 1.510.000 đồng (một triệu năm trăm mười nghìn đồng) từ bị cáo Lương Khánh H.

* Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lương Khánh H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm ngày) ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thị hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

213
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 275/2019/HSST ngày 21/10/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:275/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 21/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về