Bản án 27/2020/HS-ST ngày 30/09/2020 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CỪ - TỈNH HƯNG YÊN

BẢN ÁN 27/2020/HS-ST NGÀY 30/09/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 30 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Cừ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2020/TLST-HS ngày 16/9/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2020/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 9 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo Phan Văn Đ, sinh năm 1982 tại xã S, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Đức T và con bà: Hoàng Thị T1; có vợ là: Hoàng Thị H và 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 27/8/2020 đến ngày 02/9/2020, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; tạm giam: Không. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Bị cáo Nguyễn Thế B1, sinh năm 1982, sinh và trú tại thôn A, xã C, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thế Đ và con bà: Bùi Thị T; có vợ là: Đoàn Thị H và 02 con: con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 27/8/2020 đến ngày 02/9/2020, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; tạm giam: Không. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Bị cáo Vũ Văn L, sinh năm 1976, sinh và trú tại thôn T, xã M, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn N và con bà Vũ Thị T; có vợ là: Vũ Thị K và 03 con: con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 27/8/2020 đến ngày 02/9/2020, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; tạm giam: Không. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Bị cáo Hoàng Đình C, sinh năm 1976, sinh và trú tại thôn T, xã M, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn:

08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Đình Q và con bà Nguyễn Thị P; có vợ là: Phạm Thị T và 02 con: con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không:

tạm giữ từ ngày 27/8/2020 đến ngày 02/9/2020, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; tạm giam: Không. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

5. Bị cáo Đặng Văn B2, sinh năm 1978, sinh và trú tại thôn H, xã T, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn:

12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Văn B và con bà: Nguyễn Thị B; có vợ là: Vũ Thị H và 03 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 27/8/2020 đến ngày 02/9/2020, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; tạm giam: Không. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác:

Người chứng kiến:

- Chị Trần Thị M, sinh năm 1977; địa chỉ: thôn T, xã M, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

- Ông Hoàng Đình C, sinh năm 1957; địa chỉ: thôn T, xã M, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 ngày 27/8/2020, tại nhà anh Vũ Văn X, sinh năm 1971, thôn T, xã M, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên, Công an huyện Phù Cừ bắt quả tang 5 đối tượng đang đánh bạc trái phép dưới hình thức “đánh liêng”, gồm Phan Văn Đức, Đặng Văn B2, Hoàng Đình C, Vũ Văn L và Nguyễn Thế B1. Thu giữ tại nơi các đối tượng đánh bạc số tiền 8.800.000 đồng, một bộ tú lơ khơ 52 quân bài, quản lý một xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 34F1-04277 của Hoàng Đình C; một xe mô tô Honda Dream biển kiểm soát 89G1-06594 của Đặng Văn B2; một xe mô tô Jiulong biển kiểm soát 89K2-1465 của Phan Văn Đ.

Quá trình điều tra xác định trưa cùng ngày, các đối tượng trên đến ăn trưa tại nhà anh Vũ Văn X, vợ là Trần Thị M. Sau khi ăn xong, anh X đi ngủ, chị M ra ngoài dọn dẹp, năm đối tượng còn lại đã thống nhất chơi bài theo hình thức “đánh liêng”, được thua bằng tiền, Phan Văn Đ là người đi mua bộ tú lơ khơ, sau đó mọi người ngồi đánh bài tại nền nhà anh X. Các đối tượng đã thống nhất, người thắng ván bài sẽ thu của mỗi người chơi một khoản tiền nhưng không quá 100.000đ/ván. Khi chơi được khoảng 1 tiếng thì bị bắt quả tang và bị thu giữ, quản lý tiền và các đồ vật như trên. Trước khi chơi bài, Phan Văn Đ có 1.150.000 đồng, Hoàng Đình C có 270.000 đồng, Đặng Văn B2 có 220.000 đồng, Nguyễn Thế B1 có 3.800.000 đồng và Vũ Văn L có 3.400.000 đồng.

Do vợ chồng anh X, chị M không biết việc các đối tượng đánh bạc tại nhà mình nên không có căn cứ để xử lý.

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 02/QĐ-VKSPC ngày 15/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo thành khẩn khai nhận và ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cừ trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc”.

Đề nghị áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 36; Điều 47 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đối với các bị cáo; Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thế B1 và Đặng Văn B2.

Xử phạt bị cáo Phan Văn Đ từ 11-14 tháng cải tạo không giam giữ; bị cáo Vũ Văn L từ 11-14 tháng cải tạo không giam giữ; bị cáo Nguyễn Thế B1 từ 9-12 tháng cải tạo không giam giữ; bị cáo Hoàng Đình C từ 9-12 tháng cải tạo không giam giữ; bị cáo Đặng Văn B2 từ 7-10 tháng cải tạo không giam giữ. Các bị cáo đều được trừ 06 ngày tạm giữ vào thời gian chấp hành hình phạt; miễn hình phạt bổ sung; miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 8.800.000 đồng, tịch thu cho tiêu hủy 52 quân bài; Trả lại chiếc xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 34F1-04277 và đăng ký xe cho Hoàng Đình C; một xe mô tô Honda Dream biển kiểm soát 89G1-06594 và đăng ký xe cho Đặng Văn B2; một xe mô tô Jiulong biển kiểm soát 89K2-1465 và đăng ký xe cho Phan Văn Đ.

Các bị cáo đều nhất trí với nội dung đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cừ; không ai có ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đều xin được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Cừ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cừ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp khách quan với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp các vật chứng thu giữ. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ 14 giờ 30 đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 27/8/2020, tại nhà anh Vũ Văn X ở thôn T, xã M, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên, các bị cáo Phan Văn Đ, Đặng Văn B2, Hoàng Đình C, Vũ Văn L và Nguyễn Thế B1 đã đánh bài được thua bằng tiền dưới hình thức “Đánh liêng”, số tiền thu giữ tại vị trí các bị cáo ngồi đánh bạc là 8.800.000 đồng. Do đó hành vi của các bị cáo đa pham tôi “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cừ truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự ở địa phương, góp phần gia tăng tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được tác hại của việc đánh bạc nhưng vẫn vi phạm nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.

[3] Khi quyêt đinh hinh phat, Chủ tọa phiên tòa cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân, vị trí, vai trò người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo.

Về vị trí, vai trò của các bị cáo: Các bị cáo đồng phạm với nhau về tội Đánh bạc, các bị cáo cùng rủ nhau, thống nhất cách thức, số tiền lưu thông trong mỗi ván bài và đều là người thực hành, riêng bị cáo Đ là người chuẩn bị bộ bài để các bị cáo dùng để đánh bạc nên bị cáo Đ giữ vai trò cao nhất, tiếp theo là các Bị cáo B1 và L là những bị cáo chuẩn bị số tiền lớn hơn, các bị cáo C và B có số tiền ít hơn và tương đương nhau nên giữ vai trò thấp hơn các bị cáo khác.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Riêng Bị cáo B1 và bị cáo B2 có bố đẻ được nhà nước tặng Huân, Huy chương nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Xét thấy các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tất cả đều có nơi cư trú rõ ràng, quá trình điều tra đến khi xét xử đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, việc cho các bị cáo chấp hành án tại địa phương cũng không gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an tại nơi cư trú, vì vậy không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội, mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo các bị cáo trở thành người biết tuân thủ pháp luật.

[4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều không có công việc ổn định, không có nguồn thu nhập và không có tài sản riêng, hiện tại đều sử dụng nhà đất cùng với bố mẹ, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

[5] Các biện pháp tư pháp:

Về vật chứng: Số tiền 8.800.000 đồng là tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên sẽ bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

52 quân bài tú lơ khơ là công cụ các bị cáo dùng để đánh bạc, không còn giá trị sử dụng nên sẽ bị tịch thu cho tiêu hủy.

Các xe mô tô đã thu giữ gồm: xe BKS 34F1-042.77; 89G1-065.94 và 89K2-1465 kèm các giấy đăng ký xe không liên quan đến tội phạm nên sẽ được trả lại cho chủ sở hữu.

[6] Về án phí: Các bị cáo bi kêt án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 36 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Thế B1 và Đặng Văn B2.

Tuyên bố: Các bị cáo Phan Văn Đ, Hoàng Đình C, Đặng Văn B2 Nguyễn Thế B1 và Vũ Văn L phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt:

- Bị cáo Phan Văn Đ 11 (mười một) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 6 ngày tạm giữ (quy đổi bằng 18 ngày cải tạo), thời gian còn phải chấp hành là 10 tháng 12 ngày.

- Bị cáo Vũ Văn L 11 (mười một) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 6 ngày tạm giữ (quy đổi bằng 18 ngày cải tạo), thời gian còn phải chấp hành là 10 tháng 12 ngày.

- Bị cáo Nguyễn Thế B1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 6 ngày tạm giữ (quy đổi bằng 18 ngày cải tạo), thời gian còn phải chấp hành là 08 tháng 12 ngày.

- Bị cáo Hoàng Đình C 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 6 ngày tạm giữ (quy đổi bằng 18 ngày cải tạo), thời gian còn phải chấp hành là 08 tháng 12 ngày.

- Bị cáo Đặng Văn B2 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 6 ngày tạm giữ (quy đổi bằng 18 ngày cải tạo), thời gian còn phải chấp hành là 06 tháng 12 ngày.

Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được Quyết định Thi hành án và bản sao Bản án.

Giao các bị cáo Phan Văn Đ và Đặng Văn B2 cho UBND xã T, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên; giao các bị cáo Vũ Văn L và Hoàng Đình C cho UBND xã M, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên; giao bị cáo Nguyễn Thế B1 cho UBND xã C, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung và không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 8.800.000 đồng. Tịch thu cho tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ. Trả lại chiếc xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 34F1-04277 và đăng ký xe cho Hoàng Đình C; một xe mô tô Honda Dream biển kiểm soát 89G1-06594 và đăng ký xe cho Đặng Văn B2; một xe mô tô Jiulong biển kiểm soát 89K2-1465 và đăng ký xe cho Phan Văn Đ. (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng được mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cừ).

Về án phí: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Phan Văn Đ, Nguyễn Thế B1, Vũ Văn L, Hoàng Đình C và Đặng Văn B2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


1
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 27/2020/HS-ST ngày 30/09/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:27/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phù Cừ - Hưng Yên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về