Bản án 27/2020/HS-ST ngày 24/04/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 27/2020/HS-ST NGÀY 24/04/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Trong ngày 24 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2020/TLST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 24/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Xuân T, sinh năm 1966; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ học vấn: 7/10. Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Bố đẻ: Ngô Văn Y3, sinh năm 1932; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị G3, sinh năm 1932; Vợ: Vũ Thị C3, sinh năm 1971; Con: có 03 con, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 2002 Tiền án: Ngày 09/7/2018, bị tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm phạt 03 tháng tù về tội đánh bạc (tiền trên bàn bạc 8.585.000đồng). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/11/2018.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 13/11/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Việt Yên xử phạt 05 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án về tội đánh bạc (tiền trên bàn bạc 2.900.000đồng). Bị cáo bị bắt quả tang, không bị tạm giữ, tạm giam, hiện tại ngoại (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Đ Trọng T1– sinh năm 1959 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

2. Ông Phạm Huy L – sinh năm 1958 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khu 6, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

3. Ông Phạm Văn Th – sinh năm 1960 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

4. Ông Nguyễn Văn C– sinh năm 1967 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn G, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

- Người chứng kiến:

Anh Nguyễn Hữu Th1– sinh năm 1981 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn S, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Xuân T, sinh năm 1966, trú quán: thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang đang có tiền án về tội đánh bạc.

Khoảng 09 giờ ngày 12/12/2019, T vào nhà Trần Trọng Đ, sinh năm 1959, ở thôn S, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang thấy Đ đang ngồi uống nước tại phòng khách cùng Phạm Huy L, sinh năm 1958, trú quán: Khu 6, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, Phạm Văn Th, sinh năm 1960, trú quán: thôn T, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Văn C, sinh năm 1967, trú quán: thôn G, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang nên T ngồi chơi cùng. Sau đó, T, L, Th, C cùng rủ nhau đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh bài phỏm và bảo Đ cho đánh nhờ, Đ đồng ý. Th lấy 02 bộ bài tú lơ khơ có sẵn trên cửa sổ để xuống thảm vải màu đỏ đã chải sẵn ở nên nhà rồi cùng T, C, L ngồi xuống đánh bạc còn Đ ngồi xem. Trước khi đánh bạc T cùng mọi người quy định người nhất sẽ được của người nhì 10.000đồng, ba 20.000đồng, bét 30.000đồng, người móm mất 40.000đồng, ai được bài ù thì những người còn lại phải trả người ù 60.000đồng. Khi đánh nếu ván bài có ai được bài ù thì bỏ ra 10.000đồng để đến chưa đưa cho Đ đi mua đồ ăn chung cho mọi người. Khi đánh bạc T có khoảng 210.000đồng, C có khoảng 500.000đồng, L có khoảng 230.000đồng, Th có khoảng 250.000đồng để xuống thảm để đánh bạc. T cùng Th, C, L đánh bạc đến khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày thì Công an huyện Việt Yên phát hiện vào bắt quả tang. Khi Công an vào bắt T, Th, C, L không biết thắng thua thế nào, toàn bộ tiền đánh bạc vứt hết ở bàn bạc rồi Công an thu giữ được tổng cộng số tiền đánh bạc 1.330.000đồng (gồm 1.150.000đồng tại bàn bạc và 180.000đồng tiền những người có bài ù để ra cạnh bàn bạc) cùng 01 thảm vải đỏ, 02 bộ bài tú lơ khơ.

Phạm Huy L, Phạm Văn Th, Nguyễn Văn C tham gia đánh bạc và Trần Trọng Đ đồng ý cho bị can cùng các đối tượng khác đánh bạc tại nhà mình nhưng số tiền dùng đánh bạc chưa đủ định lượng để xử lý bằng hình sự và chưa có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên ngày 15/02/2020 Công an huyện Việt Yên đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L, Th, C, Đ về hành vi đánh bạc theo Nghị định số 167/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ.

Bản Cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 07/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên đã truy tố bị cáo Ngô Xuân T về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự Tại phiên toà hôm nay bị cáo Ngô Xuân T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Xuân T phạm tội “Đánh bạc”.

* Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Ngô Xuân T từ 07 tháng đến 10 tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

Về phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thảm vải đỏ; 02 bộ bài tú lơ khơ. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 1.330.000 đồng.

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí, buộc bị cáo Ngô Xuân T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đã ăn năn, hối cải. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến vắng mặt, Hội đồng xét xử thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai thể hiện quan điểm của họ và sự vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Ngô Xuân Tấm đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ, tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận:

Ngô Xuân T, sinh năm 1966, trú quán: thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang đang có 01 tiền án về tội đánh bạc. Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 12/12/2019, tại nhà Trần Trọng Đ, sinh năm 1959, ở thôn S, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang, T có hành vi đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh bài phỏm cùng với 03 đối tượng khác thì bị Công an huyện Việt Yên phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ số tiền dùng đánh bạc 1.330.000đồng (trong đó tiền đánh bạc của T khoảng 210.000đồng).

[4] Như vậy hành vi của bị cáo Ngô Xuân T đã phạm vào tội “Đánh bạc”. Cáo trạng và bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên truy tố bị cáo Ngô Xuân T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan đối với bị cáo.

[5] Xét về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trên địa bàn. Bị cáo là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã từng bị kết án nhưng chưa được xóa án tích, bị cáo nhận thức rất rõ hành vi mà bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện với mong muốn thu lời bất chính, sát phạt nhau về kinh tế, được thua bằng tiền. Do vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò đồng phạm để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 13/11/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Việt Yên xử phạt 05 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án về tội đánh bạc (tiền trên bàn bạc 2.900.000đồng) và ngày 09/7/2018, bị tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phúc thẩm phạt 03 tháng tù về tội đánh bạc (tiền trên bàn bạc 8.585.000đồng).

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bố bị cáo được tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến hạng nhì, ba nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Xét tính chất vụ án, mức độ và hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ điều kiện để cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[8] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo bị cáo là lao động chính trong gia đình, con trai bị cáo bị tàn tật nặng được hưởng trợ cấp xã hội và bản thân bị cáo cũng được trợ cấp nuôi người tàn tật nên không cần thiết xử phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[9] Về vật chứng:

Đối với: 01 (một) thảm vải đỏ; 02 bộ bài tú lơ khơ là vật các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 1.330.000 đồng là tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

[10] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên; 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Ngô Xuân T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Ngô Xuân T 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.

Về phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoàn 1 Điều 47 Bộ luật hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thảm vải đỏ; 02 bộ bài tú lơ khơ. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 1.330.000 đồng.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Ngô Xuân T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.


14
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về