Bản án 27/2020/HS-ST ngày 20/05/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 27/2020/HS-ST NGÀY 20/05/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 20 tháng 5 năm 2020, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 06/2020/TLST-HS ngày 21/01/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/QĐXX-ST ngày 12 tháng 02 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Vũ Xuân T, sinh ngày 14/9/1983; Tên gọi khác: Không Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm 4, Xã T, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: nam Trình độ văn hoá: 07/12; Nghề nghiệp: Làm chè; Tiền sự: Không. Tiền án: 02

+Tại bản án số 20/HSST/2017 ngày 27/4/2017 Tòa án nhân dân huyện Đại Từ xử phạt Vũ Xuân T 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” (Thực hiện hành vi đánh bạc ngày 03/01/2017, số tiền sử dụng đánh bạc trên 05 triệu đồng).

+Tại bản án số 27/HSST/2017 ngày 31/5/2017 Tòa án nhân dân huyện Đại Từ xử phạt Vũ Xuân T 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” (Thực hiện hành vi đánh bạc ngày 10/01/2017, số tiền sử dụng đánh bạc trên 05 triệu đồng).

Con ông Vũ Đức L, sinh năm 1962 và bà Ngô Thị L, sinh năm 1962 Gia đình có 4 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình có vợ là Trần Thị H, sinh năm 1992, có hai chung, lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2015.Hiện bị cáo tại ngoại, trước đó không bị giam giữ - có mặt 2. Họ và tên: Đinh Văn T, sinh ngày 10/10/1970; Tên gọi khác: Không Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm 7, xã T, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam Trình độ văn hoá: 07/12 ; Nghề nghiệp: Làm chè; Tiền án: không Tiền sự: Tại quyết định số 373 ngày 31/01/2019 bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Đại Từ xử phạt Đinh Văn T số tiền 7.500.000 đồng về hành vi dùng nhà ở, chỗ ở của mình để chứa bạc. Trịnh đã nộp tiền phạt ngày 22/2/2019.

Con ông: Đinh Văn T và bà Trần Thị T đều đã chết, gia đình có 07 chị em, bị cáo là con thứ 5, có vợ là Đặng Thị H, sinh năm 1969, có 03 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2003.

Hiện bị cáo tại ngoại, trước đó không bị giam giữ - có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan 1. Bà Hoàng Thị Nsinh năm 1971 – vắng mặt Trú tại: xóm 7, xã T, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

2. Ông Đinh Văn T, sinh năm 1967 – vắng mặt Trú tại: xóm 7, xã T, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

3. Ông Đặng Xuân D, sinh năm 1975 – có mặt Trú tại: xóm 7, xã T, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

4. Ông Đặng Xuân C, sinh năm 1978 – vắng mặt Trú tại: xóm 7, xã T, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

5. Ông Đinh Văn C, sinh năm 1987 – vắng mặt Trú tại: xóm 7, xã T, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Người làm chứng:

1. Đặng Ngọc A, sinh năm 1982 – vắng mặt Trú tại: xóm 7, xã T, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên – vắng mặt 2. Ngô Văn T sinh năm 1979 – vắng mặt Trú tại: xóm 7, xã T, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

3. Anh Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1970 – vắng mặt Trú tại: xóm 7, xã T, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

4. Anh Đinh Xuân T, sinh năm 1967 - vắng mặt Trú tại: xóm 7, xã T, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Người chứng kiến: Anh Đinh Văn D, sinh năm 1961 Trú tại: xóm 7, xã T, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 15 giờ 30 phút ngày 26/8/2019 nhận được tin báo của quần chúng nhân dân có nhóm đối tượng đang đánh bạc tại xóm 7, xã T, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Tổ công tác Công an huyện Đại Từ phối hợp với Công an xã T tiến hành kiểm tra phát hiện tại lán sao chè của gia đình bà Hoàng Thị N có một nhóm đối tượng đang đánh bạc được thua bằng tiền, bằng hình thức đánh liêng.

Tổ công tác tiếp cận thì một số đối tượng bỏ chạy thoát, còn lại 05 đối tượng là: Vũ Xuân T, Đinh Văn T, Đặng Ngọc A, Ngô Văn T, Đinh Văn Ch. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng tại chiếu bạc gồm:

2.380.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam, 49 quân bài tú lơ khơ, 01 chiếc chiếu mành kích thước 1,6 x 1,8m, thu giữ trên người Đinh Văn C số tiền 1.200.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam (C khai không sử dụng số tiền này để đánh bạc), 02 điện thoại di động (01 chiếc nhãn hiệu Itel và 01 chiếc nhãn hiệu oppo màu đen) và đưa các đối tượng cùng vật chứng về Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đại Từ.

Quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đại Từ đã làm rõ các đối tượng tham gia đánh bạc tại nhà bà Hoàng Thị Ngân ngày 26/8/2019 nhưng bỏ chạy khi Tổ công tác phát hiện bắt quả tang là Đặng Xuân C, Nguyễn Ngọc P, Đặng Xuân D. Sau đó C, P và D đã đến Cơ quan điều tra khai nhận hành vi đánh bạc tại nhà bà N và P đã tự nguyện giao nộp 03 quân bài tú lơ khơ Phát cầm theo khi bỏ chạy.

Tại cơ quan điều tra T, T, Tr, P, C, D, C cùng khai nhận như sau: Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 26/8/2019 C và T rủ nhau đến lán sao chè của nhà bà Hoàng Thị N để đánh bạc bằng hình thức đánh liêng được thua bằng tiền. Khi đến nơi thì gia đình bà N không có ai ở nhà. C lấy bộ tú lơ khơ 52 quân ở bếp sau đó ngồi xuống chiếu mành có sẵn ở lán sao chè để đánh bạc. Khi C và T đánh bạc được khoảng 10 phút thì N, A, T, D, C, T đến tham gia đánh bạc cùng. Các đối tượng tham gia đánh bạc đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì Phát đến tham gia đánh bạc.

Khi cả nhóm đang đánh bạc đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì Tổ công tác Công an huyện Đại Từ và Công an xã T phát hiện bắt quả tang. Lợi dụng sơ hở C, Dvà P bỏ chạy thoát. Khi bỏ chạy D bỏ lại tại chiếu bạc 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, C bỏ lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel còn P cầm theo 03 quân bài tú lơ khơ.

Cách thức chơi là một người trong nhóm chia cho mỗi người 03 quân bài, sau đó mỗi người chơi góp 10.000 đồng (mười nghìn đồng) gọi là “gà” rồi những người chơi kiểm tra 03 quân bài được chia và quy ước theo thứ tự: 03 quân bài giống nhau gọi là “sáp”, 03 quân bài liên tiếp nhau gọi là “liêng”, 03 quân bài có hình gọi là “ảnh”, sau đó người chơi xác định thắng thua theo thứ tự “sáp”, “liêng”, “ảnh”, nếu không ai có “sáp”, “liêng”, “ảnh” thì cộng 03 quân bài lại tính điểm, cao nhất là 09 điểm (các quân bài từ 10 đến K quy ước mỗi quân là 0 điểm).

Sau khi xem xong bài người chơi có thể “tố” thêm tiền (đặt thêm tiền cược) nhưng không quá 50.000 đồng, nếu không có ai “tố” thêm thì người chơi đọ bài, ai có bài lớn nhất (theo thứ tự nêu trên) thì được ăn tiền “gà” và tiền “tố” thêm.

Khi tham gia đánh bạc Tr sử dụng 400.000 đồng; T sử dụng 350.000 đồng; T sử dụng 430.000 đồng; Ngọc A sử dụng 450.000 đồng; C sử dụng 410.000 đồng; Dsử dụng 60.000 đồng; Csử dụng 70.000 đồng và P sử dụng 210.000 đồng để đánh nhiều ván bạc và không ai nhớ thắng thua được bao nhiêu tiền. Đánh bạc đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày 26/8/2019 thì bị Tổ công tác Công an huyện Đại Từ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Như vậy tổng số tiền 08 đối tượng sử dụng để đánh bạc là 2.380.000 đồng (Hai triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng).

Vật chứng của vụ án là: 3.580.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam niêm phong ký hiệu A đang được gửi tại Kho bạc nhà nước huyện Đại Từ (Trong đó có 2.380.000 đồng là tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc và 1.200.000 đồng thu giữ của C), 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếc chiếu mành kích thước 1,6 x 1,8 mét, 01 điện thoại di động Itel màu đen, 01 điện thoại di động OPPO màu đen đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKSĐT ngày 17/01/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Vũ Xuân T và Đinh Văn T phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS.

Tại cơ quan điều tra và trước phiên toà hôm nay các bị cáo khai nhận hành vi vi phạm pháp luật như bản cáo trạng đã nêu trên.

Người có quyền lợi liên quan có anh Đặng Xuân D có mặt, anh D giữ nguyên lời khai như trong hồ sơ và có nguyện vọng được lấy lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO để sử dụng.

Đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của họ tại cơ quan điều tra. Hai bị cáo nhất trí với lời khai của những người này và không có ý kiến gì thêm.

Kết thúc xét hỏi, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ trình bày luận tội đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Các bị cáo Vũ Xuân T và Đinh Văn T phạm tội “Đánh bạc” Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, Điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Vũ Xuân Triều, xử phạt Triều mức án từ 15 đến 18 tháng tù.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 BLHS đối với bị cáo Đinh Văn T, xử phạt T từ 3 đến 6 tháng tù.

Phạt mỗi bị cáo từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ dể nộp ngân sách nhà nước. Xử lý vật chứng và buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Phần tranh luận các bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử của Tòa án là đúng người đúng tội và xin giảm nhẹ mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

{1}. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điểu tra Công an huyện Đại Từ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

{2.}Về căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa công khai, các bị cáo khai: Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 26/8/2019, tại lán sao chè của gia đình bà Hoàng Thị Nn tại xóm 7, xã T, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên các đối tượng Vũ Xuân T đã bị kết án về tội đánh bạc chưa được xóa án tích, Đinh Văn T đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi dùng nhà ở, chỗ ở của mình để chứa bạc, Ngô Văn T, Đinh Văn C, Đặng Ngọc A, Đặng Xuân C, Đặng Xuân D, Nguyễn Ngọc P thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền thì bị tổ công tác Công an huyện Đại Từ và Công an xã T phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tại chiếu bạc 2.380.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam và một số vật chứng khác.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay là khách quan, thống nhất với nhau và phù hợp với lời khai của chính các bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với biên bản sự việc do cơ quan công an lập, lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Như vậy ý thức, hành vi và nhân thân của các bị cáo Vũ Xuân T và Đinh Văn T đủ yêu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.

Nội dung điều luật quy định như sau:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền... dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này... chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

{3}. Xét tính chất hành vi:

Xét hành vi đánh bạc của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến an toàn công cộng của nhà nước, gây mất trật tự trị an ở địa phương, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm cải tạo giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

{4}. Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Vũ Xuân Triều và Đinh Văn T đều được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. T được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS.

Triều có tiền án, T có tiền sự nhưng đã được sử dụng để định tội danh đối với hai bị cáo nên các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 BLHS.

Xét thấy bị cáo Vũ Xuân T và Đinh Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng nào; Triều được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ; Trịnh được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ nhưng bị cáo T đã hai lần bị xét xử cùng về hành vi Đánh bạc; bị cáo T đã bị xử phạt hành chính nên cần có mức án và buộc cáo cách ly xã hội đồng thời áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo T.

Bị cáo T phạm tội lần đầu, hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận nên có thể miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.

{6}.Về vật chứng:

Quá trình điều tra thu giữ 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếc chiếu mành kích thước 1,6 x 1,8 mét. Xét đây là những dụng cụ phục vụ cho việc đánh bạc, giá trị sử dụng không lớn cần tịch thu tiêu hủy.

Cơ quan điều tra thu giữ số tiền 3.580.000đ, trong đó đã điều tra làm rõ có 2.380.000đ là tiền đánh bạc nên tịch thu nộp NSNN; 1.200.000 thu giữ của Đinh Văn C không liên quan đến vụ án cần nên trả lại đương sự; 01 điện thoại di động Itel màu đen loại bàn phím thu của Đặng Xuân C; 01 điện thoại di động OPPO màu đen màn hình cảm ứng thu của Đặng Xuân D. Hai chiếc điện thoại này qua điều tra làm rõ không liên quan đến vụ án nên trả lại cho các đương sự sử dụng.

{7}. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định nộp ngân sách nhà nước và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Liên quan trong vụ án có Ngô Văn Trọng, Đinh Văn C, Đặng Ngọc A, Đặng Xuân C, Đặng Xuân D, Nguyễn Ngọc P có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh liêng cùng với T và T. Quá trình điều tra xác định số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng.

Các đối tượng chưa có tiền án, tiền sự. Xét hành vi nêu trên của T, C, Ngọc A, C, D, P không cấu thành tội phạm hình sự nên Công an huyện Đại Từ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Qúa trình điều tra xác định khi T, Tr và các đối tượng đánh bạc tại lán sao chè nhà bà Hoàng Thị N và ông Đinh Văn T thì bà N, ông T không có ở nhà và không biết việc các đối tượng đánh bạc tại gia đình mình.

Anh Đinh Xuân T có mặt tại chiếu bạc nhưng không tham gia chơi đánh bạc nên cơ quan điều tra Công an huyện Đại Từ không xem xét xử lý đối với bà N, ông T và anh T.

Vì các lẽ nêu trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Xuân T và Đinh Văn Tr phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Vũ Xuân T 15(mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành bản án này; Phạt bị cáo Triều 10.000.000đ (mười triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54 BLHS xử phạt Đinh Văn Tr 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành bản án này:

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Trịnh.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS, Điều 47 BLHS:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếc chiếu mành kích thước 1,6 x 1,8 mét - Tịch thu 2.380.000đ (hai triệu ba trăm tám mươi ngàn đồng) nộp ngân sách nhà nước.

- Hoàn trả anh Đinh Văn C 1.200.000(một triệu hai trăm ngàn đồng) - Hoàn trả anh Đặng Xuân C 01 điện thoại di động Itel màu đen loại bàn phím.

- Hoàn trả anh Đặng Xuân D 01 điện thoại di động OPPO màu đen màn hình cảm ứng.

(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 17/01/2020 giữa Công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và Chi cục THA dân sự huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/NQ – UBTVQH14 về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.


126
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 27/2020/HS-ST ngày 20/05/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:27/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đại Từ - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/05/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về